Với độ lùi của thời gian đã 54 năm, với sự hiểu biết của tôi, xin khẳng định đó là oan trái! anh em tôi cùng đạo diễn Trần Tuấn Hiệp và nhóm làm phim "Những người làm CMT8 ở HN" đã ghi được những tư liệu quý báu từ chính cụ Nghĩa, mong rằng 19/8/2015 cụ sẽ Mới gần đây nhất, tuyến đường Trần Hưng Đạo, quận 1 trở nên tươi bắt đầu hơn nhờ công trình biến đổi diện mạo bắt đầu cho ký kết túc xá Đại học kinh tế TP.HCM nằm trong chiến dịch "Tô điểm Việt Nam" của nhãn sản phẩm 7UP. Cam kết túc xá lúc này như khoác dòng áo mới, rực rỡ, tươi tắn, sảng khoái và mang đậm màu riêng. Ví dụ, phong cách lãnh đạo chuyển đổi Trần Gia Hưng tốt nghiệp trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn chuyên ngành viết văn. Cô được mệnh danh là tay bút có kinh nghiệm trong việc chia sẻ các kiến thức của mình trong đa lĩnh vực. Ngòi bút chân thực sẽ giúp Hội Cựu Học Sinh Bùi Thị Xuân & Trần Hưng Đạo Dalat - Bùi Thị Xuân & Trần Hưng Đạo Alumni Association Mùa thu. Đọc thêm. Phiếm Loạn số bảy. Phong Châu; 14 Tháng Tám , Anh Nguyễn Đức Quang, THĐ 1964 cùng với 5 bạn Trần Hưng Đạo thành lập Phong Trào Du Ca 1965. Anh Quang mất HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN được suy tôn và kính trọng, ngài được gọi với danh xưng THÁNH TRẦN từ 7-8 thế kỷ nay, đó là một thực tế không cần phải bàn cãi hay tranh luận gì hết. Sách sử và các sử gia kết tội Trần Thủ Độ "thông dâm" với Trần Hoàng 1o5Rnt. 𝑪𝒖̛̉𝒂 𝒉𝒂̀𝒏𝒈 𝑸 𝑰 𝑵 𝑵 𝒀26A Trần Hưng Đạo, Phường Hiệp Phú, TP. Thủ Đức, Hồ Chí Minh Link Googlemap 09 3883 1881 Trần Hưng Đạo chữ Hán陳興道; 1228 – 1300, tên thật là Trần Quốc Tuấn chữ Hán陳國峻, tước hiệu Hưng Đạo đại vương, là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. Sau khi qua đời dân gian đã suy tôn ông thành Đức Thánh Trần 德聖陳 hay còn gọi là Cửu Thiên Vũ Đế 九天武帝. Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1285 và năm 1288. Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là "Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.[1] Là con của thân vương An Sinh vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác. Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, nhà Nguyên sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Hưng Đạo vương được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông lần lượt là em họ và cháu họ ông phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Trên cương vị này, năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược do hoàng tử thứ chín Thoát Hoan. Sau những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp,... đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới. Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Hưng Đạo vương khẳng định với vua Trần Nhân Tông "Năm nay đánh giặc nhàn". Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước và vĩnh viễn từ bỏ tham vọng thôn tính phương Nam của họ. Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm "Đại vương" dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải. Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp đến khi mất năm 1300. Trước lúc qua đời, ông khuyên Trần Anh Tông "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".[2] Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến ngày nay. Đền Thờ Các Vua Trần-Thiên Trường-Thái Bình “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” Thượng Phụ Trần Hưng ạo & Thái Sư Trần Thủ ộ Hai lời nói – hai nhân cách anh hùng. Năm 1257 quân Mông Cổ xâm lăng nước ta lần thứ I, Thái Sư TrầnThủ ộ lúc ấy đã ở tuổi 63 sinh 1194 mất 1264 và Trần Quốc Tuấn đang vừa đúng 29 tuổi được cử thống lĩnh binh mã lên miền Bắc chống cự. Cột trụ của nhà Trần và của đất nước lúc ấy là Thái Sư Trần Thủ ộ, ông đã nói với vua Trần một câu nói lịch sử “ầu Tôi Còn, xin Bệ hạ đừng lo” Năm 1284, hai mươi bẩy năm sau, Mông Cổ xâm lăng qui mô lần thứ II, lúc này Trần Hưng ạo đã 56 tuổi và Thái Sư Trần Thủ ộ đã mất, vua Trần Nhân Tôn phân vân giữa kẻ chiến người hòa, đến hỏi Trần Hưng ạo, và với tinh thần sát thát cương quyết, vị lão anh hùng có 26 năm kinh nghiệm điều binh khiển tướng này đã trả lời “Bệ hạ muốn hàng, xin hãy Chém ầu Tôi trước!” Hai lời nói lịch sử cách nhau một phần tư thế kỷ mang hai ý nghĩa khác nhau “ầu tôi còn…” rõ là lời của nhà chính trị, tự tin vào “cái đầu” của mình, đầu chưa rời thì hy vọng vẫn còn, mưu sự vẫn có cơ thành, mưu trí vẫn đủ mãnh lực để đuổi giặc. Trần Thủ ộ nổi tiếng là người cương quyết, năm 1224 mới vào cung ít lâu làm iện tiền chỉ huy sứ cho Lý Huệ Tôn, ông đã nắm ngay mọi giềng mối và sửa soạn kế hoạch dựng Trần diệt Lý, chỉ một năm sau, 1225, ông đã đạt mục đích và trở thành Thái Sư triều Trần. Sau khi “nhổ cỏ nhổ cho tận rễ” diệt tới tận cùng nhà Lý 2, ông một tay cáng đáng quốc sự, chỉnh đốn triều chính, luyện binh tuyển tướng, quân số thời đó lên tới 200,000 người 3, nên khi Mông Cổ sang ta đã có sẵn quân lực để đánh. Trần Hưng ạo kém Trần Thủ ộ 34 tuổi, trong gia tộc Ngài đứng vào hàng cháu của Trần Thủ ộ. Sử gia thường cho Ngài giữ trọn chữ Trung với Vua với Nước nên đã không theo lời cha là An Sinh Vương Trần Liễu để đoạt lấy cơ nghiệp vì mối hận của Trần Liễu đã bị Trần Thủ ộ ép vợ Trần Liễu đang mang thai lấy Trần Thái Tông Trần Cảnh là anh em với Trần Liễu. Ngoài chữ Trung, còn phải kể tới tương quan giữa Trần Thủ ộ và Trần Hưng ạo trong tinh thần gia tộc, Trần Hưng ạo phải kính nể Trần Thủ ộ, trong tinh thần ái quốc Trần Hưng ạo không thể phủ nhận lòng ái quốc chân chính của Trần Thủ ộ. Thật vậy, Trần Thủ ộ có thủ đoạn tàn nhẫn với nhà Lý và chỉ với nhà Lý mà thôi, còn việc đảo ngược luân thường đạo lý ép người này lấy người kia cũng chỉ xảy ra trong nội bộ họ Trần với dụng ý xây dựng cơ đồ vững chãi cho họ Trần 4. Truyện kể lại cho ta một vài nét khác về nhân cách Trần Thủ ộ một tên lính canh dinh vô tình chặn cửa không cho bà Thái Sư vào dinh, Trần Thủ ộ nghe chuyện không trách người lính canh vô lễ mà còn khen là làm đúng lệnh. Trong triều có kẻ tâu vua là quan Thái Sư chuyên quyền, đi kiệu qua Hoàng Cung không xuống kiệu, Trần Thủ ộ nghe, khen phải, và từ đó đi qua Hoàng Cung ông đều xuống kiệu. Một người văn võ toàn tài như Trần Hưng ạo chắc đã cân nhắc những điều đó và đã quán triệt rộng rãi chữ Trung với chữ Hiếu, nên Ngài đã tận trung báo quốc, giữ phẩm cách hoàn toàn của một binh lược gia, nên câu nói lịch sử “Nếu Bệ hạ muốn hàng xin chém đầu tôi trước” phản ảnh cái hào khí của một vị Nguyên Soái, ý chí hùng mạnh dứt khoát như đường gươm. Ở Trần Hưng ạo, trắng, đen, chiến, hòa, phải trái rõ ràng minh bạch tựa mặt trời mặt trăng. Một bậc đại trượng phu như vậy hoàn toàn phù hợp với đạo lý ông phương, và như Quan Vân Trường của Tàu, Ngài đã được thờ phụng ngang hàng Thần Thánh, ngay khi còn sống đã được thờ ở sinh từ và khi chết 1300 Ngài trở thành vị Thần oai linh. Bình dân tin rằng Ngài trừ được yêu quỷ ma quái và nếu Chử ồng Tử là vị Chủ ạo Tiên, thì ức Thánh Trần trở thành vị Thần của ạo Nội, là nguyên lý Cha, bên cạnh nguyên lý Mẹ Chúa Liễu Hạnh, là hai nguyên lý hòa hợp Trời ất của tín ngưỡng bình dân Việt-Nam từ 700 năm nay. Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ nhắc nhở ta công đức của đấng Cha Mẹ độ trì dân tộc vậy. Những yếu tố làm thăng hoa Việt sử đời Trần. ược thừa hưởng 216 năm kiến quốc của chín đời vua Lý, nhà Trần đã tiếp tục kiến quốc, cứu quốc và phát triển quốc gia tới đỉnh thăng hoa lịch sử. Không phải tự nhiên “Trời cho” mà hai đời Lý Trần này sinh vô kể lương tướng tôi hiền như vậy. Suốt 400 năm hai đời Lý Trần đã thành công vì giữ được ba cơ sở tinh thần dân tộc sau đây sở tinh thần dân bản Hùng Vương. Tuy bị Tàn đô hộ gần ngàn năm, tinh thần dân bản Văn Lang vẫn kiên thủ ở làng xã và tới Lý, Trần tinh thần này lại có dịp vươn lên. Các vua quan thời Lý, Trần rất gần gũi với dân, vua Lý lấy áo đắp cho người già yếu, vua Trần cùng hoàng thích “gá chân nhau nằm ngủ”, tướng sĩ coi nhau như cha con anh em đặc biệt là Phạm Ngũ Lão, lúc quốc biến thì Vua cẩn trọng hội ý bô lão toàn quốc trọng lễ, lúc tuyển tướng chọn quân thì dựa trên đức độ hiền tài trọng hiền nên những người áo vải dân đen như Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt, Trần Khánh Dư bán than, Nguyễn Khoái, Yết Kiêu, Dã Tượng… đều có dịp lập công với nước. Tinh thần dân bản này đã huy động được toàn dân từ làng xóm thôn quê, từ tận “đáy” dân tộc, nên Lý Thường Kiệt mới phá Tống Bình Chiêm, Hưng ạo mới ba lần đại phá Mông Cổ, bằng tự lực tự cường không có ngoại bang nào trợ giúp đằng sau. 2-Cơ sở giáo dục văn ôn vũ luyện Cái học của đời Lý Trần là đạo học làm người quân bình văn và võ, không chuộng hư văn khoa bảng, nên đời Lý mới xuất ra những bậc văn võ toàn tài như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Lý ạo Thành… đời Trần như Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão… Các vua đời Lý, Trần là người chịu học đạo thánh hiền và dũng lược, lúc quốc sự đều thân chính đi đẹp giặc, vào sinh ra tử với quan quân, chứ không ngồi hưởng ngai vàng ngâm hoa vịnh nguyệt như các đời sau. Truyền thống văn ôn vũ luyện đúng là truyền thống giáo dục thích hợp với xã hội Việt-Nam, luôn luôn tao loạn và toàn dân phải thường trực phòng vệ tổ quốc. Truyền thống này, đi song song với bao chiến công hiển hách, hiển nhiên là cơ sở giáo dục đúng nhất cho con người Việt-Nam. Thời loạn, nó cung ứng cho dân tộc những chiến sĩ thao lược, thời bình nó hun đúc tinh thần thượng võ, ngay thẳng và quả cảm, có thể ngăn ngừa được kẻ gian ác độc tài hại dân hại nước. Một xã hội trọng văn, một lớp sĩ “trói gà không chặt”, khó chống được giặc trong thời loạn, khó cản được tà trong thời bình”. Trần Quốc Tuấn học ở chùa từ năm lên 6 tuổi và được rèn luyện chẳng khác chi một hiệp sĩ samurai thời trung cổ Nhật Bản. Tiếc thay truyền thống giáo dục cao đẹp này từ thế kỷ 15 trở đi sau Nguyễn Trãi bắt đầu bị khoa cử hư văn làm lu mờ dần bằng tiêu chuẩn giáo dục “Tiên học lễ hậu học văn”. sở tinh thần dung hóa khai phóng. Nhà Lý đã đủ thế lực để xác định với phương Bắc. “Nam Quốc sơn hà Nam đế cư” Lý Thường Kiệt thì nhà Trần cũng thừa khả năng để huy động toàn quốc vào đại cuộc. “Thái bình tu nỗ lực Vạn cổ thử giang san” Trần Quang Khải “Tu nỗ lực” ở đây là công trình tổng hợp văn hóa tư tưởng ại Việt bắt nguồn từ truyền thống dân bản nhân chủ Văn Lang, trọng hiền trọng lễ từ hơn 2000 năm, với Tam giáo Phật, Nho, Lão đã đã hiện diện được 1000 năm trên đất nước tính đến thế kỷ 12-13. Bốn trăm năm thịnh trị Lý, Trần đã nhào nặn đúc kết một nền văn hóa bền vững, nằm trong đại khối văn hóa ông phương nhưng vẫn mang sắc thái đặc biệt dân tộc. Phật giáo được xiển dương theo hướng “Phật tại tâm” của Thiền môn Vạn Hạnh, Trúc Lâm, Nho giáo được phát huy theo tinh thần “cùng lý chính tâm” của Chu Văn An, Lão giáo phối hợp với nội đạo Thần Tiên và cùng với Phật, Nho, bổ túc cho đạo sống quân bình xuất xử, tình và lý, thiên nhiên và tâm linh. Nhà Trần đã kết tạo được một “cốt cách” văn hiến, một bản lãnh trí thức cho kẻ sĩ Việt, bền chặt đến nỗi trải bao thăng trầm thử thách, nó vẫn tiềm tàng trong một Nguyễn Trường Tộ theo mới mà không bỏ gốc, trong một Phan Chu Trinh sâu rễ bền gốc để thâu hóa tân trào, một Nguyễn Thái Học “không thành công thì thành nhân” phản ảnh rõ rệt bản lãnh truyền thống ại Việt mà nhà Trần đã lưu lại. CHÚ THÍCH 1 Năm 1225 khi lập Trần Cảnh lên ngôi Trần Thái Tông, Thái Sư Trần Thủ ộ lúc ấy đã ở tuổi 31, và nhà vua mới có 8 tuổi, nên mọi việc chính sự đều một tay Trần Thủ ộ lo liệu. 2 Tuy vậy vẫn có người họ Lý trốn thoát, như Bàng Bá Lân vốn dòng dõi họ Lý, Tiến Sĩ Nguyễn Tư Giản đời Nguyễn, nhà văn Nguyễn Triệu Luật… đều là dòng dõi họ Lý. 3 Theo ước lượng, dân số Việt-Nam thời Trần chỉ độ ba triệu người. 4 Nhà Trần dùng khoa Tử Vi vào quốc sự nhân dụng, có thể vì thế Trần Cảnh 8 tuổi được tuyển lựa lên ngôi, vợ Trần Liễu có mang được đưa vào làm Hoàng Hậu… Môn phái Tử Vi đời Trần còn truyền tới nay. Trần Quốc Tuấn Trần Hưng Đạo là anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Làm tướng, ông biết dẹp bỏ "thù nhà" dốc lòng báo đền "nợ nước" góp công lớn ba lần đánh bại quân Nguyên. Ông còn là tác giả của hai bộ binh thư và đặc biệt bài "Hịch tướng sĩ" nổi tiếng còn lưu truyền đến ngày nay. Sau khi ông mất, vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương. Nhân dân lập đền thờ ông ở khắp nơi trên mọi miền đất đang xem Cuộc đời của trần hưng đạo 1. Tiểu SửSinh năm 1228, Trần Quốc Tuấn ra đời khi họ Trần vừa thay thế nhà Lý làm vua trong một đất nước đói kém, loạn ly. Trần Thủ Độ, một tôn thất tài giỏi đã xếp đặt bày mưu giữ cho thế nước chông chênh thành bền vững. Bấy giờ Trần Cảnh còn nhỏ mới 11 tuổi, vợ là Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của dòng họ Lý. Vì nhường ngôi cho chồng nên trăm họ và tôn thất nhà Lý dị nghị nhà Trần cướp ngôi. Trần Thủ Độ rất lo lắng. Bấy giờ Trần Liễu, anh ruột vua Trần Cảnh lấy công chúa Thuận Thiên, chị gái Chiêu Hoàng đang có mang. Trần Thủ Độ ép Liễu nhường vợ cho Cảnh để chắc có một đứa con cho Cảnh. Liễu nổi loạn. Thủ Độ dẹp tan nhưng tha chết cho Liễu. Song điều này không dẹp nổi lòng thù hận của Liễu. Vì thế Liễu kén thầy giỏi dạy cho con trai mình thành bậc văn võ toàn tài, ký thác vào con mối thù sâu nặng. Người con trai ấy chính là Trần Quốc hùng dân tộc - Hưng Đạo đại vương Trần Quốc TuấnThuở nhỏ, có người đã phải khen Quốc Tuấn là bậc kỳ tài. Khi lớn lên, Trần Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, thông kim bác cổ, văn võ song toàn. Trần Liễu thấy con như vậy mừng lắm, những mong Quốc Tuấn có thể rửa nhục cho mình. Song, cuộc đời Trần Quốc Tuấn trải qua một lần gia biến, ba lần quốc nạn và ông đã tỏ ra là một bậc hiền tài. Thù nhà ông không đặt lên trên quyền lợi dân nước, xã tắc. Ông đã biết dẹp thù riêng, vun trồng cho mối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần khiến cho nó trở thành cội rễ của đại thắng. Bấy giờ quân Nguyên sang xâm chiếm Việt Nam. Trần Quốc Tuấn đã giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải. Hai người là hai đầu mối của hai chi trong họ Trần, đồng thời một người là con Trần Liễu, một người là con Trần Cảnh, hai anh em đối đầu của thế hệ trước. Sự hòa hợp của hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung kể rằng thời ấy tại bến Đông, ông chủ động mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Quang Khải... Rồi một lần khác, ông đem việc xích mích trong dòng họ dò ý các con, Trần Quốc Tảng có ý khích ông cướp ngôi vua của chi thứ, ông nổi giận định rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. Do các con và những người tâm phúc xúm vào van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thầy này nữa! Trong chiến tranh, ông luôn hộ giá bên vua, tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt. Thế mà vẫn có lời dị nghị, sợ ông sát vua. Ông bèn bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không khi gần cận nhà vua. Và sự nghi kỵ cũng chấm dứt. Giỏi tâm lý, chú ý từng việc nhỏ để tránh hiềm nghi, yên lòng quan để yên lòng dân, đoàn kết mọi người vì nghĩa lớn dân tộc. Một tấm lòng trung trinh son sắt vì vua, vì giao quyền tiết chế cho Trần Quốc Tuấn. Ông biết dùng người tài như các anh hùng Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng... đều từ cửa tướng của ông mà ra. Ông rất thương binh lính, và họ cũng rất tin yêu ông. Đội quân cha con ấy trở thành đội quân bách Quốc Tuấn là một bậc tướng "cột đá chống trời". Ông đã soạn hai bộ binh thư "Binh thư yếu lược", và "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" để dạy bảo các tướng cách cầm quân đánh giặc. Trần Khánh Dư, một tướng giỏi cùng thời đã hết lời ca ngợi ông "... Lấy ngũ hành cảm ứng với nhau, cân nhắc cửu cung, không lẫn âm dương...". Biết dĩ đoản binh chế trường trận, có nghĩa là lấy ngắn chống dài. Khi giặc lộ rõ ý định gây hấn, Trần Quốc Tuấn truyền lệnh cho các tướng, răn dạy chỉ bảo lẽ thắng bại tiến lui. Bản Hịch tướng sĩ viết bằng giọng văn thống thiết hùng hồn, mang tầm tư tưởng của một bậc "đại bút".Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng tài có đủ tài đức. Là tướng nhân, ông thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi. Là tướng chí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu. Là tướng dũng, ông sẵn sàng xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh giặc, lập công, cho nên trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời là đại công của ông. Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo ông thì sẽ được gì, trái lời ông thì sẽ bị gì. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn đều lập công tháng trước khi mất, vua Anh Tông đến thăm lúc ông đang ốm, có hỏiNếu chẳng may ông mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?Ông đã trăn trối những lời cuối cùng, thật thấm thía và sâu sắc cho mọi thời đại dựng nước và giữ nướcThời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ thu tháng Tám, ngày 20, năm Canh Tý, Hưng Long thứ 8 1300 "Bình Bắc đại nguyên soái" Hưng Đạo đại vương qua đời. Theo lời dặn lại, thi hài ông được hỏa táng thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa cánh rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ...Khi ông mất 1300, vua phong ông tước Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông thuở sinh thời. Công lao sự nghiệp của ông khó kể hết . Vua coi như bậc trượng phu, trăm họ kính trọng gọi ông là Hưng Đạo đại Hưng Đạo là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa Việt Vị anh hùng được nhân dân phong thánhDân gian có câu "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ" là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh Đức thánh Trần Hưng Đạo và Đức thánh Mẫu Liễu Kiếp BạcĐền Kiếp Bạc là nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh. Lễ hội được tổ chức vào âm lịch hàng năm. Khu di tích có Tam Quan Linh Môn, Thành các, Tiền tế, Hậu cung, núi Nam Tào, núi Bắc Đẩu, núi Dược Sơn... in đậm dấu ấn về một thời lịch sử oai hùng "Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng. Lục Đầu vang dội tiếng quân reo".Đất nước thanh bình Trần Hưng Đạo vẫn sống ở Kiếp Bạc. Ngày năm Canh Tý nhằm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất tại tư dinh. Trước khi qua đời ông đă dặn lại vua Trần "Khoan thư sức dân là kế sâu gốc, bền rễ, đó là thượng sách giữ nước". Sau khi ông mất, triều đình phong tặng ông là Thái sư Thượng phụ Quốc công tiết chế Nhân võ Hưng Đạo Đại Vương và cho lập đền thờ ông trên nền Vương phủ gọi là đền Kiếp Bạc. Nhân dân Việt Nam suy tôn gọi ông là Đức Thánh Trần, được công nhận là một trong mười vị tướng tài của thế mùa thu ở Côn Sơn - Kiếp Bạc là kỳ lễ hội chính kỷ niệm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đồng thời người đi lễ cũng đến Côn Sơn thắp hương tưởng niệm anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi tạo thành sự hợp nhất giữa hai di tích trong kỳ lễ "giỗ trận" Bạch ĐằngỞ xã Yên Giang, Yên Hưng, Hà Nam có đền Trần Hưng Đạo, là nơi thờ người anh hùng dân tộc với sự kiện chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại năm 1288. Ngày nay đền Trần Hưng Đạo trở thành trung tâm lễ hội Bạch sử sách sáng ngày tức mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tý chính tại nơi đây, bên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã lập nên chiến công chói ngời nhất lịch sử nước ta tiêu diệt và bắt sống hàng vạn tên xâm lược, hàng trăm chiến thuyền, bắt sống Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, đập tan ý đồ xâm lược của quân Nguyên Mông. Ghi nhớ chiến công, tưởng nhớ người anh hùng Trần Hưng Đạo, dân làng An Hưng nay là Yên Giang lập đền thờ Ngài bên dòng Bạch Hưng Đạo sống là người, thác là thánh. Trong đền này còn giữ được nhiều sắc phong của các vua nhà Nguyễn như Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân phong Trần Hưng Đạo làm Thượng đẳng thần. Các đạo sắc đều ca ngợi chiến công, oai linh, đức độ giúp dân giúp nước của Trần Hưng Đạo. Sắc của vua Tự Đức năm thứ 6 1854 có đoạn "Trần Hưng Đạo Đại Vương có công giúp nước, cứu dân, oai linh lẫm liệt, cảm ứng cả trời đất, được nhân dân sùng bái"...Bên cạnh đền Trần Hưng Đạo là miếu Vua Bà, tương truyền có từ thời Trần. Người dân lập miếu để thờ bà hàng nước đã cho biết giờ thủy triều lên xuống để danh tướng nhà Trần liệu kế đánh giặc. Thú vị là đền thờ của một bà hàng nước lại được người dân suy tôn là Vua Bà và được đặt bên cạnh bậc vương gia Trần Hưng Đạo được suy tôn là Thánh!Hàng năm đến ngày lễ hội của đền Trần, nhân dân trong vùng và các nơi lại kéo về dự hội, thắp hương tưởng nhớ công ơn của Trần Hưng Đạo mà dân gian từ lâu đã tôn kính gọi là Đức Thánh Trần. Ngày hội chính của đền là mồng 8 tháng 3 âm lịch, là ngày diễn ra chiến thắng Bạch Đằng năm xưa, người dân Yên Hưng vẫn gọi đây là ngày "giỗ trận". Ngày "giỗ trận" có cả phần lễ và phần hội đu quay, chọi gà, đánh vật, cờ người, cờ tướng... và, tất nhiên, không thể thiếu môn đua thuyền trên sông Bạch Đằng. Dân Hà Nam, từ già đến trẻ nô nức đi xem thêm Cách Tìm Nghiệm Là Gì Toán 7 Bài 9, Cách Tìm Nghiệm Của Đa Thức Một Biến Và Ví DụDi tích đền Trần Hưng Đạo - miếu Vua Bà đã được Bộ văn hoá thông tin xếp hạng là di tích lịch sử theo quyết định số 100/HQĐ ngày Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, Phan Huy Chú xếp Trần Hưng Đạo đứng thứ nhất trong bốn “tướng có tiếng và tài giỏi” đời Trần trên Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão và Trần Khánh Dư. Cùng với đó là lời cẩn án “Danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo vương không mấy đời có; kiêm cả văn võ, thừa chí dũng, dựng nên công lao sự nghiệp kỳ vĩ mà giữ vững trung nghĩa… Ông không những là anh hùng của một thời đại mà cho đến các bậc tướng thần cổ kim cũng ít ai bì kịp”1. Trong những ghi chép có phần vắn tắt, nhà sử học TK XIX còn không ít lần tỏ lòng ngưỡng mộ và ngợi ca mối quan hệ tốt đẹp cũng như tấm lòng trung thành trước sau như một của Trần Quốc Tuấn với các vua nhà Trần. Trước đó gần nửa thế kỷ, sử thần Ngô Thì Sỹ cũng đánh giá Hưng Đạo vương có “lòng trung thành thấu đến mặt trời, mặt trăng; khí tiết động đến quỷ thần”, “thật đáng làm gương hàng trăm đời cho những người làm bề tôi”2. Trong lịch sử Việt Nam, đó là một chuẩn mực và mẫu mực của mối quan hệ vua tôi. Tháng 6 năm Canh Tý, niên hiệu Hưng Long thứ 8 1300, tức hai tháng trước khi qua đời, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lâm trọng bệnh. Vua Trần Anh Tông thân hành về phủ đệ của vương ở Vạn Kiếp. Đến bên giường bệnh, lo lắng hỏi thăm tình hình sức khỏe, nhà vua đồng thời tranh thủ ý kiến Trần Quốc Tuấn về kế sách ngừa giặc, giữ nước. Hưng Đạo vương tổng kết kinh nghiệm và bài học lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, nhấn mạnh nguyên nhân thắng lợi của nhà Trần trong ba lần kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông là bởi đã phát huy cao độ sức mạnh của “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà góp sức”. Lời di chúc ngắn gọn, nhưng súc tích, mang tính khái quát rất cao. Đó không chỉ là tâm huyết, trí lực của một nguyên lão trọng thần gắn bó cả cuộc đời với thời kỳ gian nan nhất nhưng cũng huy hoàng nhất của vương triều; mà còn là kinh nghiệm tổng kết nghệ thuật quân sự của vị đại tướng ba lần gánh trọng trách tổng chỉ huy quân đội cả nước đánh giặc, giữ nước. Suy rộng ra, đó còn là tư tưởng, đường lối chính trị của vương triều Trần. Cội nguồn sức mạnh, nguyên nhân của mọi thành công nhà Trần có được là bởi triều đại này đã xây dựng được một nền tảng chính trị vững chắc dựa trên ba yếu tố chính sách khoan hòa, thân dân; chính quyền vững mạnh, đoàn kết; và tinh thần gắn kết, nhất trí cao độ trong dòng họ Trần. Thật vậy, tư tưởng bao trùm trong đường lối trị nước của triều Trần là thân dân. Thiết chế tập quyền thân dân thời Trần thực chất là sự kế thừa, phát huy tinh thần của triều Lý, nhưng mang những màu sắc riêng, mới của thời đại. Và cũng không phải đợi đến khi Trần Hưng Đạo di chúc phải “khoan thư sức dân để lấy làm kế sâu rễ bền gốc”, nhà Trần mới thấm nhuần triết lý dĩ nông vi bản. Còn nhớ, ngay từ thưở mới kiến lập vương triều, Trần Thái Tông đã rất tâm đắc lời của quốc sư Trúc Lâm “Phàm là kẻ làm vua thì phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, phải lấy tấm lòng của dân làm tấm lòng của mình”. Vì vậy, ngai vàng quyền lực, ông “xem như chiếc giày rách, bỏ đi lúc nào cùng được”. Các vị vua về sau, từ những chính sách, pháp luật đến cách hành xử, các lời nói, việc làm cụ thể đều phản ánh tấm lòng yêu dân, coi trọng lê dân bách tính. Sử cũ chép rằng, một lần nọ, khi cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ nhất 1258 vào hồi gian nguy nhất, nhà vua muốn biết tình hình quân giặc đã truyền hỏi “Quân Nguyên ở đâu?”. Lão đánh cá đang xuôi thuyền sông Hồng, tên Hoàng Cự Đà, vốn là hầu cận của vua, ngang nhiên trả lời “Không biết, các ngươi đi mà hỏi những ai ăn xoài ấy”. Trước thái độ khi quân của Cự Đà, vua Trần không những không xử tội, mà còn tự trách mình vì đã đối xử không công bằng với những người dưới3. Chính quyền nhà nước thời Trần là sự kết hợp chặt chẽ giữa tầng lớp quý tộc tôn thất và đội ngũ quan liêu đang dần lớn mạnh. Khôn khéo và chính xác trong thuật dùng người, thưởng phạt công bằng, nghiêm minh và phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, nhất trí trong hàng ngũ quan lại chính là những yếu tố quan trọng giúp triều Trần tạo nên sức mạnh của cả bộ máy chính quyền. Điều này được phản ánh bằng nhiều câu chuyện sinh động chép trong sử cũ Một lần, có kẻ đàn hặc Trần Thủ Độ, trước mặt nhà vua khóc mà rằng “Bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ thì quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?”. Trần Thái Tông tức tốc tới tư dinh Trần Thủ Độ, mang theo cả người đàn hặc và kể hết mọi chuyện với Thái sư. Trần Thủ Độ trả lời “Đúng như những lời hắn nói”. Rồi mang tiền lụa thưởng cho người ấy. Lần khác, Linh từ quốc mẫu ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân lính ngăn lại, về dinh khóc nói với Trần Thủ Độ “Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế”. Thủ Độ tức giận, sai người đi bắt tên lính. Người ấy nghĩ rằng mình chắc phải chết. Đến nơi, khi bị tra hỏi, người lính cứ theo sự thực trả lời. Trần Thủ Độ nói “Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa”. Bèn lấy vàng lụa thưởng, cho về. Thái Tông có lần muốn lập anh của Trần Thủ Độ là An Quốc làm Tể tướng. Thủ Độ biết việc mới tâu rằng “An Quốc là anh thần, nếu cho giỏi hơn thần thì thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra làm sao?”. Vua vì thế, bèn thôi4… Đánh giá về thuật dùng người của nhà Trần, sử thần Ngô Sỹ Liên TK XV nhận xét “Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm điện súy Phạm Ngũ Lão – TG thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, không chỉ có chuyên về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông. Lê Phụ Trần thì dũng lược đứng đầu ba quân, một mình một ngựa xông pha trong trận giặc, tùy cơ ứng biến, chống đỡ cho chúa trong lúc gian nguy, mà tài văn học của ông đủ để dạy bảo thái tử. Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm…”5. Lê Quý Đôn cũng bình luận “Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ cho sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất”6. Xây dựng khối đoàn kết, thống nhất ý chí trong tôn thất thực sự là một tư tưởng lớn, một chính sách đặc trưng của vương triều Trần. Bản thân các thành viên trong tộc Trần cũng luôn ý thức sâu sắc về những lợi ích chung, vì sự vững bền của cơ nghiệp nhà Trần. Vua Trần Thánh Tông 1258-1278 từng nói với người trong họ rằng “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui. Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu để chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc”. Vua hạ chiếu cho các vương hầu tôn thất “khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình. Vua cùng ăn uống với họ. Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau… Các vương hầu thời ấy không ai là không hòa thuận, kính sợ và cũng không phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng”7. Nhà Trần luôn ý thức rõ ràng trong việc xây dựng, không ngừng củng cố một tập đoàn dòng họ vững mạnh. Tuy nhiên, trong khối thống nhất ấy, giữa các cá nhân, không tránh khỏi những hiềm khích, hiểu lầm, thậm chí là mâu thuẫn. Điều đáng lưu ý, dường như không ít những khúc mắc, đều ít nhiều liên quan đến Trần Hưng Đạo. Chủ yếu, ông là nạn nhân, phải gánh chịu và giải quyết. Khi vừa tròn 20 tuổi, năm Tân Hợi 1251, Trần Quốc Tuấn chịu cái tang mất cha. Trong lúc hấp hối, An Sinh vương Trần Liễu gọi Quốc Tuấn đến bên trăng trối rằng “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Mâu thuẫn giữa gia đình An Sinh vương với bên dòng vua Trần bắt đầu từ khi vương triều mới được kiến lập. Trần Cảnh khi ấy mới 8 tuổi, được chú họ là Trần Thủ Độ chọn đưa lên ngôi, không phải anh là Trần Liễu, lúc đó đã 15 tuổi. Sau khi làm vua, vì Trần Cảnh không có con, Thủ Độ ép lấy công chúa Thuận Thiên, vợ Trần Liễu, khi ấy đang mang thai. Khởi binh mà không giành lại được vợ con, tuy được tha chết song lại bị đầy ra Đông Triều, Trần Liễu trong lòng càng vô cùng căm giận. Ông quyết chí phục thù bằng cách dốc sức đào tạo, tìm khắp thiên hạ “những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn”. Trần Quốc Tuấn vốn “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ”, càng khiến Trần Liễu yên tâm nhắm mắt vì đã tìm được người ủy thác. Năm Bính Thìn 1256, Vũ Thành vương Doãn – anh trai Trần Quốc Tuấn, vì những bất bình trong gia tộc có lẽ chủ yếu vẫn là giữa các con của Trần Liễu với dòng vua, thấy thất thế sau khi mẹ là Hiển từ Hoàng hậu vợ Thái Tông Trần Cảnh qua đời, đã mang theo vợ con trốn sang nước Tống, nhưng bị viên thổ quan phủ Tư Minh bắt đưa trả lại. Mối hiềm khích hai bên không những không được hóa giải, mà trong mắt các vua Trần và triều đình, thái độ chống đối của dòng máu An Sinh vương Trần Liễu càng trở nên rõ ràng. Tiếp đó, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai 1285, Thượng vị Chương Hiến hầu Trần Kiện – con thứ của Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang thực chất là em ruột của Trần Quốc Tuấn, đã cùng với liêu thuộc là Lê Tắc đem cả nhà và quân lính đầu hàng giặc Nguyên. Dù Trần Kiện sau đó đã bị gia nô của Trần Hưng Đạo bắn chết, nhưng sự chống đối của con cháu Trần Liễu một lần nữa khiến vua Trần phải nghi ngại, dè chừng. Bản thân Trần Quốc Tuấn cũng có những lúc không bằng lòng với các hoàng tử nhà Trần, tiêu biểu là với Trần Quang Khải. Hiềm khích đó càng trở nên khó giải quyết, khi cả hai đều là những đại thần đầu triều. Một người là Quốc công Tiết chế, chỉ huy cao nhất lực lượng quân đội toàn quốc; còn người kia là Thượng tướng Thái sư, đứng đầu đội ngũ quan lại triều đình. Nhưng cái cách mà Trần Hưng Đạo hóa giải mọi mâu thuẫn, như cách nhìn nhận của sử cũ, là “vượt trên thói thường”. Với Trần Quang Khải, Hưng Đạo vương dù là anh thuộc ngành trên, lại hơn tuổi, nhưng đã chủ động hòa giải hiểu lầm bằng một hành động rất thân tình – cởi áo, tắm cho em. Quốc Tuấn vừa tắm vừa vui vẻ nói “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Quang Khải cũng đáp “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho”. Từ đó, tình nghĩa giữa hai người ngày càng thêm thắm thiết. Lời di huấn phút lâm chung của cha, Trần Quốc Tuấn ghi nhớ trong lòng nhưng không cho là phải, và cũng không làm theo. Giữa thù nhà và trách nhiệm với giang sơn xã tắc, với cơ nghiệp nhà Trần, ông đã đặt chữ trung trên tất thảy. Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều trong tay, Hưng Đạo vương mới đem lời dặn của An Sinh vương nói lại với gia nô và các con trai của mình. Thái độ kiên quyết phản đối của Yết Kiêu và Dã Tượng, hợp với ý ông, khiến ông cảm động phát khóc và hết lời khen ngợi lòng trung tín của hai gia thần. Khi hỏi con trai cả là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Quốc Nghiễn trả lời “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”. Trần Quốc Tuấn khen là phải. Ngược lại, ông đã vô cùng tức giận trước câu trả lời có ý phản nghịch của người con trai thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Ông tuốt gươm quát mắng “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra”, rồi toan giết Quốc Tảng, may nhờ Hưng Vũ vương van xin, ông mới tha tội cho. Ông dặn Hưng Vũ vương “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”8. Cũng vì những lời lẽ gay gắt đó, Trần Quốc Tảng sau này không dám sinh lòng khác, lại hết lòng theo cha đánh giặc, lập nhiều chiến công, được phong đến tước Đại vương. Con trai Quốc Tảng là Trần Quang Triều được phong Văn Huệ vương, con gái làm Hoàng hậu của vua Trần Anh Tông… Đó là cách Trần Quốc Tuấn nghiêm khắc dạy con, dạy cháu; cũng là thái độ kiên quyết của ông trước mọi ý đồ và hành động bất trung, bất nghĩa. Từ tư tưởng, tới cách hành xử và giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình, họ tộc, tất thảy đều khắc họa rõ nét khí tiết Trần Quốc Tuấn – một tấm lòng trung nghĩa, một nhân cách cao thượng. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là một cố mệnh đại thần trải bốn triều vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông. Trong quan hệ thân tộc, với các vua Trần, dù là cháu – con rể Thái Tông, là anh họ Thánh Tông, hay là bác – bố vợ Nhân Tông, là ông Anh Tông, Trần Quốc Tuấn đều hết mực trung thành, kính cẩn, thận trọng trong từng cử chỉ, lời nói, việc làm; luôn đúng mực giữ đạo phép vua tôi. Vì có công lao lớn, vua Trần Thánh Tông trao cho Trần Hưng Đạo quyền được phong chức từ tước minh tự trở xuống, tước hầu thì phong trước tâu sau. Nhưng cả cuộc đời, chưa ông bao giờ dùng quyền ấy để phong cho một ai. Chỉ trừ gặp lúc chiến tranh cấp bách, ông phong Lang tướng giả không phải Lang tướng thực cho nhà giàu đã nộp thóc làm quân lương. Trong cả ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông, Trần Quốc Tuấn luôn túc trực bên các vua Trần. Vì ông là người nắm binh quyền, lại sẵn mối hiềm cũ, khiến không ít người nghi ngại. Với một nhãn quan rất tinh tế, ông chủ động bỏ đầu bịt sắt nhọn, chỉ dùng gậy không mỗi khi đi cạnh vua. Hành động này được sử thần Ngô Sĩ Liên bình luận “Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử… mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy”9. Khi vua Thánh Tông đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, bỏ không chức Tể tướng, lại đúng lúc có sứ phương Bắc đến. Thượng hoàng Thái Tông gọi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đến bảo “Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc”. Quốc Tuấn trả lời “Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Quang Khải. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn”10. Ngược lại, các vua Trần đều rất mực yêu mến, tin tưởng và kính trọng Trần Quốc Tuấn. Tháng 9 năm Thiệu Phong thứ 7 1257, quân Nguyên xâm phạm cương giới. Vua Trần Thái Tông ban chiếu, lệnh cho Trần Quốc Tuấn, khi ấy mới tròn 27 tuổi, thống lĩnh các tướng đem quân thủy bộ ra biên ải chặn giặc. Trong cuộc kháng chiến lần hai 1285 và lần ba 1288, Hưng Đạo vương đều được phong Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ lực lượng quân đội cả nước đánh giặc. Cả ba lần, ông đều không phụ sự ủy thác của vua Trần và sự trông mong của triều đình, quân dân Đại Việt. Mỗi lúc vận nước gian nguy, các vua Trần đều hỏi ý kiến Hưng Đạo vương với một thái độ rất ân cần, trọng thị. Trước kẻ thù là giặc Nguyên – Mông hùng mạnh, được nghe câu trả lời của vương “Phá được chúng là điều chắc chắn”, “năm nay đánh giặc nhàn”, hay “nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước”, các vua Trần càng vững dạ yên lòng, củng cố quyết tâm đánh giặc và thắng giặc. Sau khi đánh giặc thắng lợi, năm 1289, vua Trần tiến phong Trần Quốc Tuấn tước Đại vương, con cả Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn làm Khai quốc công, con thứ Hưng Nhượng vương Quốc Tảng làm Tiết độ sứ. Đó là cách tưởng thưởng xứng đáng của vua Trần cho những công lao to lớn của cả gia đình Hưng Đạo vương. Khi biết tin vương lâm bệnh nặng, cả thượng hoàng và vua Trần đều về tận phủ đệ ở Vạn Kiếp, ân cần hỏi han sức khỏe. Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý tức ngày 3-9-1300, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời, thọ 70 tuổi. Cả nước khóc thương vô hạn. Vua Anh Tông cho bãi triều 10 ngày, cùng Thượng hoàng Nhân Tông đích thân về dự lễ tang, kính tế an ủi và xuống chiếu ban cho vương tước phẩm tột cùng Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại vương, và cho lập miếu thờ. Thượng hoàng Trần Thánh Tông lúc sinh thời từng ngự chế bài văn bia đặt ở sinh từ của Đại vương, tôn ông là bậc thượng vụ, sánh tựa công lao kỳ vĩ của Thái Công Vọng khi xưa giúp Vũ vương nhà Chu. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là một anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự, nhà chính trị – văn hóa lớn của lịch sử Việt Nam. Nhưng nhắc tới Trần Quốc Tuấn, trước hết là nhắc tới một nhân cách vĩ đại. Nói như Phan Bội Châu, Hưng Đạo vương “lập được công lớn, dẹp yên được giặc mạnh”, trở thành “người anh hùng bậc nhất chống ngoại xâm” là “nhờ có ba điều” “thứ nhất là lòng nhiệt thành”, “thứ hai là có kiến thức cao” và “thứ ba là nhân cách cao thượng”11. Giữa ông với các vua Trần luôn duy trì những mối quan hệ tốt đẹp, thủy chung như nhất. Đó có thể được coi là ví dụ điển hình, biểu trưng cho tinh thần hòa đồng, gắn kết trong dòng tộc nhà Trần; cũng là cội nguồn sức mạnh của hào khí Đông A, tạo nên những thành tựu rực rỡ về võ công, văn trị một thời. Xin được dẫn lời của Bắc kỳ Kinh lược đại sứ Hoàng Cao Khải, khắc trong bia văn đền Vạn Kiếp để ca ngợi khí tiết và sự nghiệp cái thế của Đức thánh Trần “Với nhà Trần, vương Trần Hưng Đạo – TG là người tin cậy giữ thành, giữ nước, gửi trọng trách nơi triều đình, được mọi người quy phụ, chư tướng dốc lòng. Giả sử nghe lời di huấn của cha, vua nhỏ dễ lộng quyền, hoặc thay rèm đổi ngôi, hoặc đổi ấn xưng vương… Ngài thì đang khi nguy cấp lại an nhàn chấn chỉnh, ngôi vị cực tôn lại xử sự khiêm nhường, cầm dao kể tội con hư, bỏ đầu nhọn theo hầu xa giá. Môn hạ không gây bè đảng, xã tắc phúc bởi điều hòa. Vì thế mà vén trời vạch đất, là vĩ nhân của muôn đời. Xuất quỷ nhập thần, là hạo nhiên chính khí giữa khoảng trời đất”12. ________________ 1. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, 2. Ngô Thì Sỹ, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 10. Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, 34, 106, 37, 80, 54, 72. 6. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, 11. Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990, 12. Hưng Đạo vương từ bi ký, in trong Di sản Hán Nôm Côn Sơn – Kiếp Bạc – Phượng Sơn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, Nguồn Tạp chí VHNT số 339, tháng 9-2012 Tác giả Phạm Đức Anh

trần thủ độ và trần hưng đạo