Phong trào khẳng định . Phong trào cách mạng 1930 - 1931 chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn nhưng có ý nghĩa lịch sử to lớn. Phong trào khẳng định . Giải Soạn văn 10 - Chân trời sáng tạo: Hương Sơn phong cảnh. Câu 1 (trang 67 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 1): Xác định bố cục bài thơ. Trả lời: - Phần 1 (4 câu thơ đầu): Cái nhìn bao quát của chủ thể trữ tình khi đến Hương Sơn. - Phần 2 (14 câu thơ tiếp): Vẻ đẹp cụ thể Thu (Chế Lan Viên) 11. Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ) 12. Chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp) Vũ Quần Phương: 1. Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) 2. Lời kỹ nữ (Xuân Diệu) 3. Đi giữa đường thơm (Huy Cận) 4. Tràng giang (Huy Cận) 5. Nhớ rừng (Thế Lữ) 6. Bên sông đưa khách (Thế Lữ) 7. Trưa đơn giản (Chế Lan Viên) 8. Ở Đây thôn Vỹ Giạ (Hàn Mặc Tử) 9. Phong Trào Thơ Mới (1932-1945) - Tiết 5 - Ngữ Văn 11. Chuyên mục: : Dạy và học trực tuyến, Lớp 11 online. » Mua Sách Tại Những Trang Thương Mại Điện Tử Uy Tín. Tiki Shopee Fahasa. MN Tân Phong: MN Thiện Kế: MN Tiên Hường CỔNG NỘI BỘ; Toggle navigation. Thông báo mới ; Trang thơ, truyện ; Tin hoạt động ; Tin giáo dục ; Bài giảng E- learning ; Liên hệ ; Trang thơ, truyện. Cập nhật: 0:4, 20/10/2022. 3 lượt đọc. CHÙM THƠ VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA BÉ Ở LỚP MẦM XmU0. 1 1 THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN VĂN HỌC - PHỔ THÔNG TRUNG HỌC Tào Văn Ân Một thời gian khá dài, trong chương trình môn văn phổ thông trung học, Thơ mới nói riêng và văn học lãng mạn nói chung chỉ được trình bày sơ lược ở phần khái quát về văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI, cùng với sự đổi mới trong đời sống xã hội trên nhiều lĩnh vực, chương trình môn văn ở các lớp phổ thông trung học cũng đã có những điều chỉnh cho phù hợp với cách nhìn mới, với tình hình thực tế của văn học nước nhà. Từ 1989 đến nay, chương trình môn văn có những thay đổi đáng kể. Một số bài thơ tiêu biểu nhất của Thơ mới được đưa vào giảng dạy trong chương trình môn Văn lớp 11 chương trình hợp nhất hai bộ sách miền Nam và miền Bắc năm 2000. Cụ thể có một tác giả và các bài thơ sau 1. Xuân Diệu Tiểu sử và sự nghiệp thơ văn. 2. Thơ duyên. 3. Đây mùa thu tới 4. Vội vàng. 5. Nguyệt cầm đọc thêm 6. Tràng giang của Huy Cận. 7. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. 8. Tống biệt hành của Thâm Tâm 9. Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ đọc thêm 10. Tương tư của Nguyễn Bính. Những bài Nguyệt Cầm, Tiếng sáo thiên thai, Tương tư không được phân tích và bình giảng trên lớp mà chỉ yêu cầu học sinh đọc thêm. Như vậy, Thơ mới được giảng dạy trực tiếp trên lớp chỉ có 1 tác giả là Xuân Diệu và 7 bài thơ với sự phân bố thời gian là 8 tiết. Có thể nói các nhà biên soạn chương trình đã chọn và giới thiệu với học sinh lớp 11 một tác giả và những bài thơ tiêu biểu của Thơ mới nhằm giúp học sinh thấy được những cái hay, đặc biệt là những cái mới của phong trào thơ ca này. Sự phân bố số bài như trên là tương đối hợp lí so với những tác phẩm văn học hiện thực phê phán và văn học cách mạng cùng giai đọan chủ yếu được dạy ở lớp 12. Để có thêm tư liệu cho việc giảng dạy, chúng tôi liệt kê những bài Thơ mới và những bài nghị luận văn chương có liên quan trong 2 bộ sách giáo khoa lớp 11 mới nhất được biên soạn theo chương trình thí điểm Trung học phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo quyết định số 47/2002/QĐ-Bộ GD và ĐT ngày 19 tháng 11năm 2002 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT được xuất bản tháng 7 năm 2004. Giữa hai bộ sách mới có một số khác biệt nhỏ như sau Chương trình của Bộ sách thứ nhất do Trần Đình Sử làm Tổng chủ biên gồm các bài 1 1. Tác giả Xuân Diệu. 2 2. Vội vàng của Xuân Diệu. 3 3. Tràng giang của Huy Cận 4 4. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. 5 5. Mưa xuân của Nguyễn Bính. 6 6. Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh. Phần đọc thêm bắt buộc Tống biệt hành của Thâm Tâm; Tiếng địch sông Ô của Phạm Huy Thông; Đây mùa thu tới; Tựa tập “Thơ thơ” của Xuân Diệu Chương trình của bộ sách thứ 2 do Phan Trọng Luận làm Tổng chủ biên gồm các bài 1 1. Tác giả Xuân Diệu. 2 2. Vội vàng của Xuân Diệu. 13 3. Tràng giang của Huy Cận 4 4. Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. 5 5. Tương tư của Nguyễn Bính. 6 6. Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh Phần đọc thêm bắt buộc Tống biệt hành của Thâm Tâm; Tiếng địch sông Ô của Phạm Huy Thông, Đây mùa thu tới; Tựa tập “Thơ thơ” của Xuân Diệu Như vậy, chương trình của 2 bộ sách vừa được xuất bản có một khác biệt nhỏ trong việc chọn lựa giữa 2 bài thơ của Nguyễn Bính Bộ 1 Mưa xuân, Bộ 2 Tương tư. Ngoài ra không còn sự khác biệt nào ở cả 2 phần chính thức và đọc thêm bắt buộc. So với sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000, chương trình chính thức phần Thơ mới trong 2 bộ sách giáo khoa thí điểm mới nhất giảm đi 1 bài nhưng nếu học sinh phải học thêm những bài “đọc thêm bắt buộc” thì tổng số vẫn là 10 bài. Giáo viên đương nhiên phải dạy kĩ các bài chính thức nhưng không thể không lưu ý học sinh phải đọc kĩ những bài “đọc thêm bắt buộc”. Để phân tích và giảng dạy những bài thơ mới trong chương trình lớp 11, có thể cần phải lưu ý một số vấn đề quan trọng sau 1. Vấn đề văn bản và cách hiểu một số từ của các bài Thơ mới trong chương trình môn văn PTTH. Trước hết cần phải xác định chính xác văn bản thơ mà trong khi trích đăng cũng như bình giảng không ít người đã sơ sót, mặc dù đã được nhiều lần đính chính. Có những khác biệt ở một số bài thơ giữa 4 bộ sách giáo khoa văn học lớp 11 được xuất bản từ năm 2000 trở về trước Tên bài thơ Sách lớp 11 Ban KHXH. Đặng Thanh Lê chủ biên Sách lớp 11. Nguyễn Đình Chú chủ biên Sách lớp 11. Trần Hữu Tá chủ biên Sách lớp 11 chương trình hợp nhất năm 2000 Đây mùa thu tới -Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh -Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh -Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh -Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh Thơ Duyên -Anh đi lững đững chẳng theo gần Anh đi lững đững chẳng theo gần Anh đi lững thững chẳng theo gần Anh đi lững đững chẳng theo gần Vội vàng -In thiếu cả câu -Con gió xinh thì thào trong lá biếc Và này đây ánh sáng chớp hàng mi -Con gió xinh thì thào trong lá biếc Và này đây ánh sáng chớp hàng mi -Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc Và này đây ánh sáng chớp hàng mi -Con gió xinh thì thào trong lá biếc Đây thôn Vĩ Dạ -Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? -Lá trúc che ngang mặt chữ điền ? -Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? -Lá trúc che ngang mặt chữ điền ? -Sao anh không về chơi thôn Vĩ -Lá trúc che ngang mặt chữ điền -Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? -Lá trúc che ngang mặt chữ điền ? Tràng giang -Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả -Lòng quê dợn dợn vời con nước Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa -Thuyền về nước lại sầu trăm ngả -Lòng quê dợn dợn vời con nước Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa -Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả -Lòng quê dờn dợn vời con nước Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa -Thuyền về, nước lại, sầu trăm ngả -Lòng quê dợn dợn vời con nước Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa 2Tống biệt hành Chí lớn chưa về bàn tay không Một chị hai chị cũng như sen Giời chưa mùa thu tươi lắm thay Chí lớn chưa về bàn tay không ? Một chị hai chị cũng như sen Giờ chưa mùa thu tươi lắm thay Chí nhớn chưa về bàn tay không Một chị hai chị cùng như sen Giời chưa mùa thu tươi lắm thay Chí lớn chưa về bàn tay không Một chị hai chị cùng như sen Giời chưa mùa thu tươi lắm thay Qua so sánh, chúng tôi nhận thấy sách văn học chỉnh lí năm 2000 đã khắc phục được những sơ sót mà các bộ sách giáo khoa xuất bản trước đó mắc phải. Trong các bộ sách giáo khoa trước, bên cạnh những lỗi chủ yếu do in ấn, vẫn có những lỗi do người soạn chưa thật cẩn thận dẫn đến việc giải thích sai nghĩa của từ. Chẳng hạn, trong không ít lần, sách giáo khoa và nhiều tài liệu đã in sai từ "dợn dợn" trong bài Tràng giang của Huy Cận thành "dờn dợn". Từ việc trích sai thơ như vậy, người soạn sách cũng như người giảng dạy phân tích cái hay của từ ngữ và hình tượng thơ đã không ít lần giải thích thiếu chính xác ý nghĩa của từ ngữ cũng như dụng ý của nhà thơ. Trong một bài phê bình về cách hiểu sai từ "dợn dợn" trong bài thơ Tràng giang, Trần Mạnh Hảo cũng tiếp tục hiểu hai từ trên thành dờn dợn. Ông viết "Chúng tôi chỉ xin lấy một ví dụ khi tác giả sách giáo khoa giảng giải cho giáo viên hiểu câu thơ thứ ba của khổ thơ kết "Lòng quê dờn dợn vời con nước" như sau "Dờn dợn dờn là màu xanh dờn. Dợn là dợn lên, gợn lên cỏ non xanh dợn chân trời- Truyện Kiều... Sách giáo khoa giải thích từ dờn dợn cũng chưa đúng "dờn là màu xanh dờn". Dờn là một trợ từ, nhiều trường hợp chỉ có nghĩa khi đi kèm với một từ mẹ khác. Nó đi trước dợn theo kiểu gờn gợn, cốt làm cho sự dợn của sóng bớt đi, nhỏ đi Tào Văn Ân nhấn mạnh như cái dợn kia được nhìn từ xa, chứ không phải dờn là màu xanh dờn như sách giáo khoa đã giải thích" 1Nếu Trần Mạnh Hảo và một số nhà giáo đã đọc kỹ lời đính chính của chính nhà thơ Huy Cận thì sẽ không giải thích từ láy toàn phần dợn dợn thành dờn dợn "Hai chữ dợn dợn của tôi thường bị đọc sai thành dờn dợn, như thế chẳng có ý nghĩa gì. Trong bài thơ Tràng giang có nhiều điệp ngữ như điệp điệp, song song, dợn dợn. Mỗi từ điệp như thế đều có ý nghĩa riêng về nội dung cũng như về nghệ thuật"2. Việc in chính xác văn bản không phải chỉ là yêu cầu đối với việc giảng dạy các bài Thơ mới hay môn ngữ văn mà là yêu cầu chung trong ngành sư phạm, đặc biệt là với sách giáo khoa. Những sơ sót này đã được sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000 điều chỉnh. Đây cũng chính là những điều kiện đầu tiên để cảm thụ đúng đắn thơ ca. Những bài thơ được in trong sách giáo khoa thí điểm xuất bản năm 2004 mặc dù đã sữa chữa nhiều sơ sót trong các lần in trước nhưng do trích thơ từ những nguồn khác nhau nên cũng có vài khác biệt. Hãy thử so sánh một số bài Thơ mới trong 2 bộ sách vừa nêu Tên bài thơ Sách giáo khoa thí điểm lớp 11, tập 2, Bộ 1- Trần Đình Sử chủ biên Sách giáo khoa thí điểm lớp 11, tập 2, Bộ 2- Phan Trọng Luận chủ biên Vội vàng Con gió xinh thì thào trong lá biếc Thơ thơ, Nxb Đời nay, H. 1938 Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc Tuyển tập Xuân Diệu, tập 1- Thơ, nxb Văn học, H. 1983. Đây thôn Vĩ Dạ Ai biết tình ai có đậm đà? Đau thương, nxb Hội nhà văn, H. 1995 Ai biết tình ai có đậm đà. Thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên tuyển chọn và giới thiệu, nxb Văn học, H. 1991 Tràng giang Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả Sông dài trời rộng, bến cô liêu Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Lửa thiêng, Nxb Hội nhà văn, H. 1995 Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả Sông dài, trời rộng, bến cô liêu Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Lửa thiêng, Nxb Đời Nay, HN, 1940 3Tống biệt hành Một chị, hai chị cũng như sen Trời chưa mùa thu tươi lắm thay 1940 Thơ Thâm Tâm, Nxb Văn học, Một chị, hai chị cùng như sen Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay Thi nhân Việt Nam, in lần thứ 2, Nguyễn Đức Phiên xb, H. 1943 Tiếng địch sông Ô Chỉ trích một số đoạn tiêu biểu Theo Huy Thông; Tiếng sóng –Yêu thương-Tiếng địch sông Ô, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 1995 Trích từ câu 175 đến hết bài thơ câu 234 Theo Hà Nội báo, số 2 ngày 8-1-1936 Qua so sánh, có thể thấy Bộ 2, sách thí điểm có những sơ sót dẫn đến việc hiểu sai câu thơ và không thấy hết những nét riêng của nhà thơ. Chẳng hạn Con gió khác với cơn gió, và đó là cách nói mới mẻ của Xuân Diệu. Trong bài “Tràng giang”, giữa hai câu “Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả” và “ thuyền về nước lại, sầu trăm ngả” không thể hiểu giống nhau được do dấu phảy được đặt ở những vị trí khác nhau..... Giảng bài “Đây thôn Vĩ Dạ” không thể không chú ý đến 3 dấu hỏi trong 3 khổ thơ đi liền theo các câu Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Có chở trăng về kịp tối nay? Ai biết tình ai có đậm đà?. Phải chăng vì in thiếu dấu hỏi cuối câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà ?” mà sách giáo viên lớp 11 Bộ 2, tập 2 hoàn toàn không đề cập đến chi tiết này, trong khi đó ở sách Bài tập Bộ 1, tập 2 lại đưa vào một ý lớn để hướng dẫn cho giáo viên giảng dạy? “Mỗi khổ thơ trong bài thơ chứa đựng một câu hỏi. Những câu hỏi này đã giúp độc giả nhận ra được tiếng nói trữ tình sâu thẳm của bài thơ. Với câu hỏi đầu tiên vốn có dáng dấp của một lời tự nhắc Sao anh không về chơi thôn Vĩ? ta nghe được niềm xốn xang trong lòng nhân vật trữ tình khi kỉ niệm về Huế, về thôn Vĩ được đánh thức một cách đột ngột. Còn câu hỏi thứ hai Có chở trăng về kịp tối nay? cho thấy nhân vật dần chìm sâu vào mặc cảm về thân phận và tự thấy mình là kẻ “chậm chân”, “lỡ chuyến” giữa cuộc đời. Câu hỏi xuất hiện cuối bài Ai biết tình ai có đậm đà? ẩn ngụ một chút hoài nghi, một chút trách móc, vừa thoáng vẻ cam chịu, vừa nhói lên khát vọng sống khôn cùng”3Những bài Thơ mới được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 11 là những bài thơ hay, tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới, thể hiện khá rõ nét đặc trưng cơ bản của thơ lãng mạn. Nhưng ở mỗi nhà thơ; mỗi bài thơ; những đặc trưng đó được thể hiện với những sắc thái riêng biệt, độc đáo tùy thuộc vào đối tượng, hoàn cảnh riêng, cảm xúc, quan niệm nghệ thuật, tài năng và cá tính sáng tạo của từng nhà thơ. Chẳng hạn, nỗi buồn và cô đơn là một nét chung được thể hiện ở hầu hết các nhà Thơ mới nhưng tâm trạng, cảm xúc đó được biểu hiện khác nhau qua các tác giả cũng như ở các bài thơ khác nhau của cùng một tác giả. Nếu người đọc bắt gặp ở bài Thơ duyên một nỗi buồn nhè nhẹ, phảng phất của một thanh niên mới lớn ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của cô gái nhưng vẫn e dè ngần ngại vì "lần đên và những người am hiểu về Thơ mới. Cái mới của Thơ mới được biểu hiện trước hết ở Phan Khôi, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư.. nhưng có thể nói được tập trung thể hiện rõ nét và tiêu biểu nhất trong thơ Xuân Diệu. Phải chăng chọn Xuân Diệu là tác gia duy nhất của Thơ mới, các tác giả biên soạn sách muốn nhấn mạnh đến những cái mới mà các tác giả Thơ mới đã đạt được? Từ suy nghĩ đó, chúng tôi cho rằng, giảng về Xuân Diệu, thơ Xuân Diệu, và cả những nhà Thơ mới khác, cần phải nhấn mạnh những cái mới trong thơ của họ so với những nhà thơ trước đó. Nói cách khác, giảng về Thơ mới, nhất thiết phải giúp cho học sinh thấy được cái mới trong thơ họ so với thơ Trung đại Việt Nam. Riêng với Xuân Diệu, không chỉ thấy rõ cái mới trong thơ ông so với các nhà thơ Trung đại mà còn cần chỉ rõ cái mới đó so với các nhà thơ lãng mạn cùng thời. Trong quá trình phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại, Xuân Diệu có một vai trò hết sức quan trọng. Ông được các nhà phê bình văn học cùng thời nhận xét là người mang đến cho Thơ mới nhiều cái mới nhất Vũ Ngọc Phan, Người mới nhất trong những nhà Thơ mới Hoài Thanh. Cái mới trong thơ Xuân Diệu được thể hiện trên nhiều phương diện từ quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người đến những cách tân táo bạo trong hình thức nghệ thuật thơ ca... Những đổi mới của thơ Xuân Diệu trong giai đoạn 1930-1945 gắn liền với quan niệm nghệ thuật của ông về con người và thế giới. Là một nhà thơ lãng mạn, Xuân Diệu có ít nhiều điểm tương đồng với các nhà Thơ mới. Nếu như các nhà Thơ mới đề cao cái tôi, ý thức sâu sắc về cá nhân thì Xuân Diệu cũng không vượt ra ngoài qui luật chung đó của thời đại nhưng con người cá nhân trong thơ Xuân Diệu cũng có những nét riêng không lẫn vào đâu được, đó “là Một, là Riêng, là Thứ Nhất” như ông quan niệm. Cũng như các nhà Thơ mới, ông cũng thể hiện con người với nhiều ước mơ, mộng tưởng, cô đơn, lạc loài nhưng điều quan trọng trong thơ ông là con người đó đồng thời cũng gắn bó sâu xa, máu thịt với cuộc đời thường nhật, biểu hiện một khát vọng sống mãnh liệt, nồng nàn, tha thiết. Xuân Diệu đã cảm nhận thế giới vượt ra ngoài thông lệ so với những nhà thơ của quá khứ cũng như nhiều nhà thơ đương thời. Những sự vật vốn trừu tượng, vô hình thường hiện lên một cách sinh động, cụ thể trong mối tương quan, tổng hòa của các giác quan. Riêng trên bình diện ngôn ngữ thơ ca, Xuân Diệu có những điểm mới, rất sáng tạo, lạ lùng, mà đương thời không ít người chê là ngô nghê, lai căng, mất gốc...Quả thật, nhiều câu thơ của Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của sự diễn đạt của câu văn Pháp. Trong thơ Xuân Diệu có hàng loạt những từ ngữ mới mẻ nhưng cũng chỉ những từ ngữ ấy mới diễn đạt được cái mới trong tâm hồn thi sĩ của nhà thơ Nhan sắc ơi, bình minh quá, tháng giêng cười, tuôn âu yếm, lùa mơn trớn, rượu nơi mắt, gấm trong lòng, chùm mong nhớ, khóm yêu đương, hoa kỹ nữ, gió phong lưu, tình thổi gió, trăng mối lái, trăng vú mộng, tắt nắng đi, buộc gió lại.. 5 Câu hỏi Thơ mới là gì? Trả lời “Thơ mới” là “phong trào thơ” xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX. Những nhà thơ theo phong trào này có xu hướng đoạn tuyệt với thể loại thơ trước đó mà họ cho là gò bó cả về nội dung và hình thức. Là cuộc cách mạng giải phóng thơ ca khỏi những ràng buộc đã lỗi thời. Bạn đang xem Thơ mới là gì? Ngữ Văn 11 Các em cùng Sài Gòn Tiếp Thị tìm hiểu thêm về các đặc trứng của thơ Mới nhé! Nội dung1. Đặc trưng về nội dungMột cái tôi ấp ủ tinh thần dân tộc Tuy các nhà thơ mới không đủ dũng khí đối diện với hiện thực để phản ánh như các nhà thơ hiện thực trào phúng, cũng không dám đấu tranh giành độc lập dân tộc như các nhà thơ cách mạng, họ tìm đến con đường thoát ly hiện thực như một giải pháp an toàn, nhưng không có nghĩa họ hoàn toàn toàn thờ ơ, quay lưng lại với dân tộc cái tôi buồn và cô đơn 2. Đặc trưng về nghệ thuậta Thể thơb Tính nhạc trong thơc Ngôn từ trong thơ và cấu trúc câu thơd Biện pháp tu từe Hệ thống thi ảnh 1. Đặc trưng về nội dung Đặc sắc nhất của Thơ mới, những gì còn lại qua thời gian, là đã xây dựng được hình ảnh một cái tôi cá nhân – cá thể. Theo chúng tôi, cái tôi Thơ mới có hai đặc điểm lớn Một cái tôi ấp ủ tinh thần dân tộc Tuy các nhà thơ mới không đủ dũng khí đối diện với hiện thực để phản ánh như các nhà thơ hiện thực trào phúng, cũng không dám đấu tranh giành độc lập dân tộc như các nhà thơ cách mạng, họ tìm đến con đường thoát ly hiện thực như một giải pháp an toàn, nhưng không có nghĩa họ hoàn toàn toàn thờ ơ, quay lưng lại với dân tộc mình. Đây đó trong một số bài Thơ mới, ta bắt gặp một thái độ phủ nhận đối với thực tại đen tối, một tâm sự đau buồn trước tình cảnh đất nước lầm than. Không một nhà thơ mới nào lên tiếng ủng hộ giai cấp thống trị, hoặc công nhận trật tự xã hội bấy giờ là tốt đẹp. Họ biết rõ ai là “mẹ thật”, ai là “mẹ ghẻ” của mình. Trong khi có một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn còn ngợi ca trật tự xã hội đương thời, tô hồng lối sống tư sản thì các nhà thơ mới luôn quay lưng lại hiện thực đen tối. Họ thấy cuộc đời toàn những cảnh tù hãm đau xót “Đời cũng đìu hiu như dặm khách” Xuân Diệu “Quê hương ơi trăm năm như giấc điệpViệc đổi thay không thể nói cho cùngCó vùng vẫy cũng không qua số kiếpTa chỉ là phòng nhỏ của buồng chung Tế Hanh – “Mẹ ơi ! sao mẹ giốngĐất nước sinh ra conCùng một bầu khổ thốngCũng bấy nhiêu đau buồn” Huy Cận Mượn lời con hổ “nhớ rừng”, Thế Lữ cũng nói lên tình trạng “sa cơ, nhục nhằn, tù hãm” mất tự do và khao khát tự do của cả dân tộc ta lúc bấy giờ. Trong Thơ mới, ta cũng bắt gặp hình ảnh những con người mang lý tưởng đẹp đẽ. Ở người khách chinh phu trong “Tiếng gọi bên sông” của Thế Lữ, dù chưa có được cái “hùng tâm tráng chí” của người cách mạng nhưng đã dám “dấn bước truân chuyên khắp hải hồ”, ra đi vì “ghét lũ vô nhân giận nỗi đời”, từ chối mọi hạnh phúc riêng, kể cả tình yêu để kiếm tìm, thực hiện lý tưởng. Trong bài “Con voi già”, Huy Thông đã ca ngợi hình ảnh của Phan Bội Châu, của người chí sĩ cách mạng nói chung, tuy chiến bại mà vẫn uy nghi lẫm liệt… Cũng có nhà thơ, trước tình cảnh lầm than của đất nước đã tìm về quá khứ vàng son với một lòng hoài niệm xót đau. Chế Lan Viên là một nhà thơ như thế. Nhà thơ mượn chuyện dân tộc Chiêm Thành để thổ lộ nỗi đau thầm kín của một người dân Việt Nam mất nước. Chiêm Thành với những đổ nát tan tành hôm nay cũng giống như đất nước Việt Nam đang chìm đắm trong lầm than nô lệ, trở về quá khứ rực rỡ huy hoàng của Chiêm Thành trong quá khứ cũng là khao khát của thi sĩ về độc lập, tự do cho đất nước. Bởi vậy không phải ngẫu nhiên có lúc, nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã ít nhiều gặp gỡ Thế Lữ, Huy Thông, Chế Lan Viên. Tố Hữu nói “Trong tâm hồn của các anh lúc đó, tôi tìm thấy những nỗi băn khoăn đau buồn của những người cùng thế hệ, đòi hỏi tự do, ước mơ hạnh phúc, tuy các anh chưa tìm thấy lối ra và nhiều khi rơi vào chán nản”. Nhưng phải nói rằng, tinh thần dân tộc ở các nhà Thơ mới thể hiện rõ nhất trong việc ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên đất nước, ca ngợi những giá trị văn hoá cổ truyền, và đặc biệt là tình yêu đối với tiếng Việt. Mỗi nhà thơ có thể tìm đến một khung cảnh gắn với những ký ức, những kỷ niệm riêng tư. Đây là hình ảnh một làng sơn cước thuộc Hương Sơn – Hà Tĩnh, ở tả ngạn sông Thâm, bên núi Mồng Gà trong thơ Huy Cận “Tới ngã ba sông nước bốn bề Nửa chiều gà lạ gáy trên đê” Đây là hình ảnh đẹp và thơ của Vĩ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Đây là hình ảnh sông nước Quảng Ngãi trong thơ Tế Hanh “Làng tôi vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá” Và đây là hình ảnh mùa xuân ở Bình Định trong thơ Chế Lan Viên “Hàng dừa cao say sưa ôm bóng ngủ Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô Xoan vườn cành khoèo mặt trời rực rỡ Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu…” Đặc biệt có một hình ảnh xuất hiện rất nhiều trong Thơ mới, đó là hình ảnh làng quê Việt Nam, vùng Bắc Bộ. Trong thơ Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ… ta thấy hiện lên không gian sống rất thân thuộc với mỗi người, những thôn Đoài, thôn Đông, bến đò, gốc đa, quán chợ, cổng làng, mái nhà tranh, giậu mùng tơi, rặng hoa xoan, hàng hoa phượng… Các nhà thơ mới cũng có xu hướng tìm về những giá trị văn hoá cổ truyền. Đoàn Văn Cừ miêu tả “Chợ Tết”, Vũ Đình Liên viết về “Ông đồ” bằng tất cả những gì yêu thương, trìu mến nhất cùng sự nuối tiếc về những giá trị văn hoá đang dần bị mai một theo thời gian… Tấm lòng đó của các nhà thơ mới thật đáng trân trọng ! Có một tình yêu vừa tha thiết, vừa đằm sâu, vừa đau đáu trong Thơ mới. Tình yêu đó vừa bộc lộ ở dạng thức cảm xúc vừa thể hiện ra bằng hành động cụ thể, đó là tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ. Thời kỳ đó, tiếng Pháp mới là ngôn ngữ chính thống còn tiếng Việt bị khinh rẻ như một nàng hầu. Trong khi có những nhà văn chuyên viết văn bằng tiếng Pháp thì các nhà Thơ mới đã hết lòng yêu thương và bảo vệ tiếng Việt. Huy Cận có một bài thơ hay ca ngợi ngôn ngữ của dân tộc “Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con Tháng ngày con mẹ lớn khôn Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha Đời bao tâm sự thiết tha Nói trong tiếng nói lòng ta thuở giờ…” Nhưng phải nói, tình yêu tiếng Việt bộc lộ rõ nhất qua thực tiễn sáng tác. Nhiều nhà thơ không gọi thành tên thứ tình cảm đó nhưng trong sáng tác của họ, ta thấy họ miệt mài, chắt chiu, vun đắp, sáng tạo trong cách dùng từ, đặt câu góp phần làm phong phú kho từ vựng tiếng Việt và làm trong sáng, linh hoạt, hoàn thiện, uyển chuyển câu văn Việt, ngữ pháp Việt… Trên đây là đặc điểm thứ nhất của cái tôi Thơ mới. Có nhiều nhà nghiên cứu không mấy để ý đến điều này, nhưng chúng tôi cho rằng đây là một đặc điểm quan trọng tạo nên ý nghĩa tích cực của tiếng nói cá nhân trong Thơ mới. Một cái tôi buồn và cô đơn Trước hết, cần khẳng định rằng Thơ mới lãng mạn vẫn có nhiều bài thơ yêu đời, yêu cuộc sống, ca ngợi nét đẹp của tình yêu trong sáng hồn nhiên tuổi học trò, những kỷ niệm tươi thắm của một thời e ấp như “Xuân đầu”, “Tặng thơ” Xuân Diệu, “Đi giữa đường thơm” Huy Cận, “Chùa Hương” Nguyễn Nhược Pháp, “Tương tư” Nguyễn Bính… Nhưng dựa vào đây để nói rằng cái tôi Thơ mới yêu đời thì không thỏa đáng. Có thể nói, sắc nét hơn cả ở thơ lãng mạn vẫn là cái tôi buồn bã và cô đơn. Thơ mới từ khi ra đời đã “buồn từ trong bản chất”. Nỗi buồn này xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan. Về nguyên nhân chủ quan Nhiều nhà thơ mới phải trả qua cảnh ngộ éo le, cuộc đời nhiều chuyện đau buồn, thậm chí bất hạnh ngay từ “những ngày thơ ấu”. Xuân Diệu là con một bà vợ bé, phải sống với mẹ cả, chịu sự khinh miệt, bị đối xử lạnh lùng. Lưu Trọng Lư cũng là con một bà vợ bé, ngay từ nhỏ đã phải chứng kiến những giọt nước mắt buồn tủi của mẹ cho đến khi bà nhắm mắt. Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà nho phong kiến tàn tạ, có nhiều chuyện bất hòa, không vui. Tế Hanh là con một ông đồ từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, sau bị thực dân quản thúc. Hàn Mặc Tử mắc bệnh hiểm nghèo khi tuổi đời còn quá trẻ, tài năng đang ở độ chín… Tất cả những cái buồn trong cuộc đời thực đã biến thành những dòng lệ trong văn chương. Về nguyên nhân khách quan đây mới là nguyên nhân chủ yếu Nỗi buồn riêng của họ lại bắt gặp một tiếng khóc dài trong văn học nỗi buồn trong sáng tác của những bậc đàn anh. Cái đau buồn riêng đã gặp cái đau buồn của xã hội, cái tủi nhục mất nước. Thi sĩ lãng mạn vì không có sự gắn bó mật thiết với các phong trào đấu tranh lành mạnh chống thực dân phong kiến của nhân dân, của dân tộc, họ e sợ không dám tham gia vào cuộc đấu tranh đó nên tìm cách lẩn tránh bằng con đường thoát ly. Họ trốn vào vỏ bọc cá nhân tưởng là bình yên nhưng càng đào sâu vào cái tôi họ càng cảm giác buồn, bất an, bơ vơ, mất phương hướng. Hoài Thanh đã đúng khi nói về tình trạng cô đơn cùng cực của cái tôi Thơ mới “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ra đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh… Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thuở trước” “Thi nhân Việt Nam” Nỗi buồn của cái tôi Thơ mới thực ra có nhiều cung bậc biểu hiện đa dạng và phức tạp. Có cái buồn hắt hiu, cái buồn mưa gió, cái buồn “tràng giang”, cái buồn “điệp điệp”, cái buồn đứng, cái buồn ngồi, cái buồn tàn tạ, cái buồn đưa ma tiễn cảnh đời tàn vào cõi chết… Qua các chặng đường của Thơ mới, cái buồn như mỗi lúc một nhân lên. Ở thơ Thế Lữ thời kỳ đầu mới chỉ là cái buồn “xa vắng”, “mênh mông”, đến Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu, cái buồn ấy đã trở nên thấm thía. Lưu Trọng Lư nghe thấy một tiếng gà trưa mà cảm thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa, Chết không gian khô héo cả hồn cao” Còn Xuân Diệu, một con người yêu đời, say đời là thế mà cũng không tránh khỏi cảm giác buồn, đổ vỡ “Vàng son đang lộng lẫy buổi chiều xanh Quay mặt lại cả lầu chiều đã vỡ” Vũ Hoàng Chương thì nghe mưa rơi lá rụng mà thấy “đời hiu hiu xế tà”, thấy buồn suốt cả cuộc đời. Nhưng phải nói cái buồn da diết ảo não nhất là trong thơ Huy Cận. Nó bàng bạc khắp không gian, kéo dài trong thời gian, đó là nỗi sầu nhân thế, nỗi sầu “vạn cổ” từ “Lửa thiêng” cho đến “Kinh cầu tự”… Đi liền với nỗi buồn là sự cô đơn, nhưng cái cô đơn của cái tôi Thơ mới cũng thật đặc biệt. Nhà thơ xưa, chỉ có một mình uống rượu dưới trăng, đối diện với bóng của mình, cô đơn lẻ loi, đã đành. Nhà thơ mới sống giữa bao nhiêu người vẫn cảm thấy cô đơn “Trăng sáng, trăng xa, trăng lạnh quá Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ” Phải chăng cô đơn của nhà thơ xưa là cô đơn hướng ngoại, còn cô đơn của nhà thơ mới hướng nội sâu sắc, trở thành một đặc điểm thường trực khi họ không tìm được một điểm tựa vững chắc trong đời, nơi nào cũng thấy chông chênh, mong manh,dễ đổi thay, dễ đổ vỡ… Nhà thơ mới luôn có tâm trạng “ngơ ngác y như lạc giữa đời”. Thế Lữ như “một kẻ bộ hành ngơ ngác” trên con đường vắng, Lưu Trọng Lư như “con nai vàng ngơ ngác trong rừng thu”, còn Xuân Diệu thì tự ví mình “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối…” Huy Cận thì thấy mình “lủi thủi”, “suốt cuộc đời như núi đứng riêng tây”. Vũ Hoàng Chương thì nhận thấy ”Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ…” Cảm nhận về sự cô đơn thấm thía nhất phải nói đến Xuân Diệu. Càng yêu đời, khao khát giao cảm gắn bó với đời khi chỉ nhận được sự lạnh lùng thì càng cảm thấy cô đơn. Mượn “Lời kỹ nữ”, ông diễn tả cảm giác cô đơn đó “Em sợ lắm, giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo khắp xương da” Vì buồn và cô đơn, cái tôi trong Thơ mới tìm cách thoát ly, trốn vào nhiều nẻo. Trở về quá khứ với hi vọng tìm lại ánh hào quang, huy hoàng rực rỡ là con đường mà nhiều nhà Thơ mới đã đi, điển hình là Huy Cận và Chế Lan Viên. Chế Lan Viên tìm lại quá khứ vàng son của nước Chiêm Thành nhưng quá khứ vàng son đối lập với hiện tại đổ vỡ, tan nát, càng làm cho hiện tại trở nên xám xịt, lầm than. Huy Cận cũng tìm về quá khứ xa xưa, nhưng trên con đường heo hút đó, không những không nguôi cảm giác buồn mà nhiều lúc nhà thơ thấy rợn ngợp trước cái xa vắng của thời gian, cái mênh mông vô cùng vô tận của không gian, cảm nhận mình chỉ là “Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu” Tìm về quá khứ không trốn được cô đơn, nhà thơ mới tìm đến cuộc sống ở một thế giới khác. Từ trước khi Thơ mới xuất hiện, cái tôi lãng tử Tản Đà đã xuất hiện hồi đầu thế kỷ giữa văn đàn với bao giấc mơ tiên, muốn được lên “hầu trời”; “muốn làm thằng Cuội”… để thỏa mãn cái tôi phóng túng, chán cảnh trần gian mà hướng về thượng giới. Đến Thơ mới, ta bắt gặp một Thế Lữ say sưa với “tiếng sáo Thiên thai”, Chế Lan Viên với khao khát “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo” Và đến Hàn Mặc Tử, những tác phẩm càng về cuối đời càng thấy ngự trị bao trùm là một cõi – “ngoài cõi người” cõi “Thượng thanh khí”, nơi có những “Cẩm châu duyên”, “Duyên kỳ ngộ”, “Quần tiên hội”… Ở thi sĩ bất hạnh này, cõi siêu hình mà ông vươn tới còn chứa đựng một niềm tin tôn giáo mãnh liệt với hình ảnh thánh nữ đồng trinh, đức mẹ Maria – điểm tựa tinh thần duy nhất của nhà thơ những năm tháng cuối đời. Trong tất cả những con đường thoát ly hòng trốn tránh sự cô đơn, con đường phổ biến nhất mà nhiều nhà thơ mới đã trải qua là con đường tình yêu. Thơ tình yêu tràn ngập trên báo chí, trong sách vở đương thời. Nhà thơ mới nào cũng có khoảng mươi bài thơ về tình yêu, đến nỗi chính Xuân Diệu – ông hoàng của thơ tình mà đã phải thốt lên “những giọng anh em đầy rẫy trong văn chương, không khí trĩu nặng những chàng những nàng, không khéo thở thì đến chết ngạt mất”. Trong Thơ mới, gương mặt tình yêu cũng thật đa dạng, có đủ sắc độ bảy thứ tình cái tình non, cái tình già, cái tình mới hé, cái tình nở hoa, cái tình thấp thoáng, cái tình mặn mà, cái tình chia li… Và tình yêu của cái tôi Thơ mới cũng trải qua khá nhiều chặng đường. Ban đầu, tình yêu vẫn còn đầy khoảng cách, dường như yêu mới chỉ là một khái niệm, một cảm xúc chỉ ở trong lòng, chưa thể, chưa dám bày tỏ. Cho nên, trong thơ tình Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, yêu mà chỉ “kính nhi viễn chi”; đứng xa mà ngắm “cô em” , chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người yêu như ngắm một nhan sắc, một cái đẹp nghệ thuật hơn là một người tình bằng xương bằng thịt. Đến Huy Cận, khoảng cách tình yêu được rút ngắn, đó là tình yêu ban đầu “trong như suối”, phảng phất chút “thần tiên” thơ mộng. Với anh, “em” chính là ánh sáng, là hương thơm, là niềm vui, là cả trời đất đầy ý nghĩa, cả khi “em đến” và khi “Em nói, anh nghe tiếng lẫn lời Hồn em anh thở ở trong hơi Nắng thơ dệt sáng trên tà áo Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài” Trong thơ Nguyễn Bính, tình yêu cũng thật đẹp, thật duyên dáng. Đó là cái tình chất phác của một chàng trai chân quê, yêu say đắm mà cũng thật kín đáo, ý nhị, ngại tỏ bày nhưng nhiều lúc trách móc, giận hờn vu vơ, rồi nhiều khi khó nói, mượn cả những cỏ cây quê nhà mà gửi lời yêu thương trìu mến… Đến Xuân Diệu, Thơ mới biết đến một tình yêu đúng nghĩa, nồng nàn, mãnh liệt ”Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi ! Và những khát khao gần gũi “vô biên và tuyệt đích” “Hãy sát đôi đầu ! Hãy kề đôi ngực ! Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ! Những cánh tay ! Hãy quấn riết đôi vai ! Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng” Nhưng tình yêu cuồng nhiệt trong thơ Xuân Diệu cũng đi liền với cảm giác “xa cách”, yêu cuồng nhiệt mà không được thỏa vì yêu không đơn thuần là sự gần gũi thể xác mà là sự gặp gỡ tâm hồn, nên trong gặp gỡ đã thấy chia li, trong khát vọng đã vội dâng lên thất vọng. Và Xuân Diệu cảm nhận rõ ràng về cảm giác “Cho rất nhiều song nhận chả bao nhiêu”, vì “Lòng anh là một cơn mưa lũ Đã gặp lòng em là lá khoai Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc Lá xanh không ướt đến da ngoài…” Cho nên mới nói trong tình yêu, Xuân Diệu vồ vập nhất, ham hố nhất mà cũng cô đơn thấm thía nhất. Hóa ra, đường tình đâu phải là con đường dễ đi, và càng không dễ với những ai có ý định trốn vào nó mà tìm sự bình yên ! Đến chặng đường cuối cùng, khi cái tôi Thơ mới rơi vào bế tắc, thì gương mặt tình yêu cũng biến dạng, méo mó khi Vũ Hoàng Chương tìm đến “Thơ say” mà ca ngợi tình yêu xác thịt “Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải Chút ngây thơ còn lại cũng vừa chôn” Rõ ràng là từ những câu chuyện tình yêu với những kết cục buồn của cái tôi Thơ mới đã đặt ra một vấn đề Tình yêu đâu phải đơn thuần chỉ là chuyện cá nhân, chuyện của hai người. Đó còn là vấn đề mối liên hệ vững chắc giữa cá nhân đó với tập thể, với môi trường xung quanh. Tình yêu đó nếu chỉ vì mình hoặc cùng lắm vì người mình yêu mà quên đi bao người khác thì đôi tình nhân dù có quấn quýt, yêu thương nhau tha thiết chứ chưa nói đến chuyện hờ hững như trong thơ Xuân Diệu, thì hình ảnh họ trong thơ vẫn cô đơn, tội nghiệp. Mất đi căn cốt lành mạnh là điểm tựa xã hội, tình yêu của cái tôi trong Thơ mới cuối cùng chỉ thu hẹp lại trong quan niệm “xác thịt” âu cũng là điều dễ hiểu. Nói tóm lại, cái tôi trong Thơ mới dù trốn vào nhiều nẻo, nhưng ở đâu nó cũng buồn và cô đơn. Mặt tích cực của tâm trạng này là nó thể hiện chân thật, thấm thía thái độ thù địch, không chấp nhận đối với trật tự xã hội đương thời – xã hội thực dân nửa phong kiến, bóp nghẹt tự do, kìm hãm sự phát triển và ngăn cản con người tìm đến hạnh phúc. Nhưng mặt khác, tác động tiêu cực của cái buồn, sự cô đơn trong Thơ mới là nó dễ làm cho người ta say sưa trong cái buồn vơ vẩn, cô đơn, chán nản, làm mất nhuệ khí đấu tranh, ít nhiều hạn chế việc tham gia các phong trào cách mạng của một bộ phận thanh niên trí thức đương thời. Vả lại, cái đáng nói hơn nữa là ở quan niệm và cách ứng xử của nhà thơ mới trước cái buồn, cái cô đơn. Nếu coi cô độc là một căn bệnh của cái tôi lãng mạn thì vấn đề là liệu người ta có muốn thoát khỏi tình trạng đó không, có muốn chữa khỏi căn bệnh đó không mới là điều quan trọng. Khi Lưu Trọng Lư viết “Hãy lịm người trong thú đau thương” và Xuân Diệu viết “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa, không chịu lành thú độc”, khi “đau thương” mà trở thành cái “thú”, cô đơn trở thành niềm kiêu hãnh không muốn chữa lành thì cái tôi trong Thơ mới kia, ngàn đời vẫn như ngọn Hy Mã Lạp Sơn cao vút, sẵn sàng gánh chịu nỗi giá rét ngàn đời, tự hào kiêu hãnh trong cảm giác được “Là Một. Là Riêng. Là Thứ nhất” . 2. Đặc trưng về nghệ thuật Thực ra, đặc trưng quan trọng nhất của Thơ mới thể hiện ở phương diện nội dung, ở cái tôi cá thể, còn nghệ thuật biểu hiện có phần mờ nhạt hơn. Tuy vậy, nói gì thì nói, tác phẩm văn học bao giờ cũng phải là sự hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật, nội dung sẽ không được thể hiện ra nếu không có hình thức nghệ thuật tương ứng. Với quan niệm đó, chúng tôi xin điểm qua một số nét thuộc về hình thức mà chúng tôi tạm cho là đặc trưng nghệ thuật của Thơ mới. a Thể thơ Cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và thơ cũ không chỉ ở cách nhìn, quan điểm thẩm mỹ mà còn ở thể thơ. Không kể đến những bài thơ chạy theo hình thức, Thơ mới hầu hết đều được viết khá tự do. Tự do hiểu theo nghĩa là không bị ràng buộc khắt khe về niêm, luật như thơ cũ, nhà thơ mới có thể linh hoạt hơn trong cách gieo vần, hiệp vần, sử dụng thanh điệu, thay đổi nhịp… trong những bài thơ được viết theo thể thất ngôn, ngũ ngôn quen thuộc. Điều này khiến cho Thơ mới uyển chuyển, linh hoạt, mềm mại, dễ tiếp nhận hơn thơ cũ. b Tính nhạc trong thơ Ngôn ngữ tiếng Việt vốn đã giàu nhạc điệu, ngôn ngữ đó đi vào Thơ mới một lần nữa được gia tăng chất nhạc nhờ có sự sắp xếp, tổ chức ngôn từ, thanh điệu rất tài hoa. Nếu như trong thơ cũ, yêu cầu về sự phối kết các thanh điệu bằng – trắc rất nghiêm ngặt nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh, thì Thơ mới sử dụng thanh điệu khá thoải mái, có câu hầu như thanh trắc, có câu toàn thanh bằng… Và thanh điệu trở thành một yếu tố hình thức mang tính nội dung rất rõ rệt, thanh điệu, nhạc điệu của câu thơ góp phần biểu đạt ý nghĩa tả thực và sắc thái cảm xúc của câu thơ, bài thơ. Thơ mới là thơ buồn, dễ hiểu vì đó mà thanh bằng thường được sử dụng nhiều hơn thanh trắc để kiến trúc thơ. Chẳng hạn Bích Khê dùng thanh bằng tạo âm hưởng nhẹ nhàng, man mác cho câu thơ, gợi không gian mùa thu vàng mênh mang và gợi nỗi buồn xa vắng “Ô hay ! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông” Hay trong thơ Hàn Mặc Tử, thanh bằng gợi tả khung cảnh đẹp đẽ, nên thơ, huyền ảo của đêm trăng và sự rung động nhẹ nhàng, bâng khuâng trong lòng thi sĩ “Tơ trăng buông rèm trên muôn cành Tơ trăng vàng rung như âm thanh” Hoặc trong thơ Xuân Diệu, thanh bằng gợi một không gian vấn vương, với những hình ảnh quấn quýt, nương tựa nhau khiến cho lòng người cũng vấn vương nhung nhớ “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi …” c Ngôn từ trong thơ và cấu trúc câu thơ Thơ mới đã đem đến một khả năng kết hợp từ rất mới và nhiều khi rất táo bạo. Điều này đem đến cho cấu trúc câu thơ mới một diện mạo mới, giúp cho khả năng biểu đạt nội dung tinh tế hơn, phong phú hơn. Có những từ trong thực tế tưởng như không thể đi liền với nhau, nhưng đứng vào trong câu thơ lại khá xứng đôi “Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió” “Long lanh tiếng sỏi vang vang hận” Có rất nhiều hình dung ngữ mới xuất hiện, làm giàu thêm cho vốn ngôn ngữ dân tộc “Còn đâu những giờ nhung lụa” “Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì” “Một chiều ong vàng đẹp sắc năm mây”… Đặc biệt, kiểu cấu trúc câu thơ Pháp đã ảnh hưởng đến Thơ mới Việt Nam, tuy chưa thật sự nhuần nhị nhưng được ghi nhận là bước đầu phá cách, đổi mới “Hơn một loài hoa đã rụng cành” “Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ”… d Biện pháp tu từ Ngoài những biện pháp tu từ quen thuộc trong văn học dân tộc như so sánh, nhân hóa… Thơ mới sử dụng phổ biến nghệ thuật đối lập và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Đối lập là một nghệ thuật đặc thù của văn học lãng mạn, bởi vì cũng giống như văn học lãng mạn Pháp, đối lập xét trên bình diện rộng là tâm thế của nghệ sĩ lãng mạn trước thực tại xã hội. Họ luôn đối lập mình với thực tế đen tối, tù túng, muốn thoát ra khỏi hiện thực đó. Sự đối lập này biểu hiện trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm trên những khía cạnh cụ thể. Đó có thể là sự đối lập của những tâm trạng, cảm xúc sung sướng – vội vàng, khát khao gần gũi – thực tế cô đơn trong sáng tác của Xuân Diệu. Điển hình nhất trong Thơ mới có lẽ là đối lập giữa quá khứ và hiện tại. Đối lập này được khai thác trong nhiều tác phẩm của nhiều nhà thơ mới như Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Huy Cận… Điều này có thể lý giải ở cơ sở sâu xa chính là sự ý thức về tồn tại của cái tôi cá nhân cá thể ở quan niệm động, mới mẻ về thời gian, ở nỗi đau xót trước hiện thực ngột ngạt đen tối muốn tìm lại thời vàng son đã mất… Như vậy, sự đối lập của các cặp phạm trù đã nói lên một cách chân thật tình yêu đối với cuộc sống của các nhà thơ mới. Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác cũng là một biện pháp nghệ thuật quen thuộc trong Thơ mới. Đây là một nét đặc trưng của văn học lãng mạn Việt Nam, ảnh hưởng từ trường phái thơ tượng trưng của Pháp, với quan niệm về thuyết tương giao ánh sáng – hương thơm – màu sắc tương giao với nhau, vì thế có thể dùng từ chỉ giác quan này để chỉ giác quan khác. Điều này đòi hỏi sự cảm nhận tinh tế của mọi giác quan cũng như cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Đây đúng là lĩnh vực để cái tôi cá nhân phát huy vai trò bản thể của mình. Ví dụ “Đã nghe rét mướt luồn trong gió” “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”… Nhờ đó, những hình ảnh quen thuộc người ta vẫn bắt gặp hàng ngày tưởng như đã nhàm chán nay trở nên vô cùng mới lạ và hấp dẫn. e Hệ thống thi ảnh Hệ thống thi ảnh được hiểu là hệ thống những hình ảnh được miêu tả trong thơ. Thơ mới lãng mạn phát huy cao độ vai trò tưởng tượng của người nghệ sĩ, vì thế đã sáng tạo ra được một hệ thống thi ảnh vừa phong phú vừa mới mẻ, độc đáo. Mỗi bài thơ tạo ra được một hệ thống thi ảnh, mỗi nhà thơ cũng tạo ra một thế giới thi ảnh riêng, in đậm dấu ấn của phong cách cá nhân, góp phần thể hiện tâm trạng và những quan niệm riêng về cuộc đời. Trong thơ Chế Lan Viên, ta hay bắt gặp hình ảnh đổ nát của tháp Chàm với những đầu lâu, xương sọ… Những hình ảnh đó thể hiện nỗi buồn chán, tuyệt vọng của Chế Lan Viên khi hiện tại chỉ còn là một đống hoang tàn của quá khứ và tương lai thì mịt mờ, vô định… Trong thơ Nguyễn Bính, ta bắt gặp cả một thế giới hình ảnh của làng quê Việt Nam, từ cảnh vật cho đến con người đều mang nét hồn nhiên chất phác, mộc mạc, đáng yêu, hệ thống thi ảnh đó chở theo khát vọng về một cuộc sống bình dị gắn với những giá trị truyền thống của nhà thơ “chân quê”. Trong thơ Xuân Diệu, hiện lên cả một thế giới những hình ảnh đầy màu sắc, đẫm xuân tình, với sự sinh động và sức sống chứa chan của mùa xuân bên cạnh những hình ảnh báo hiệu sự tàn phá, phôi phai của mùa thu. Tất cả được gợi lên từ những đối lập của cùng một cái tôi yêu đời thiết tha, cuồng nhiệt Xuân Diệu. Còn trong thơ Hàn Mặc Tử, rõ ràng có sự đan xen phức tạp của hai hệ thống thi ảnh vừa trong sáng, hồn nhiên, thuần khiết vừa kì dị, ma quái, rùng rợn. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng đó là do tình trạng bệnh tật của nhà thơ và quan niệm thẩm mỹ riêng về quá trình sáng tạo nghệ thuật. Qua hệ thống thi ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử, ta hình dung ra một con người vừa ngoan cường, âm thầm bền bỉ vượt lên trên bệnh tật để sáng tác, vừa không tránh khỏi có lúc bị chế ngự bởi hoàn cảnh. Chính hệ thống thi ảnh là một tín hiệu nói cho ta về tâm trạng đau khổ bi kịch và về một tình yêu đời mãnh liệt, đầy uẩn khúc của Hàn Mặc Tử. Đăng bởi Sài Gòn Tiếp Thị Chuyên mục Lớp 11, Ngữ Văn 11 Bài văn mẫu lớp 11Những bài văn mẫu hay lớp 11Văn mẫu lớp 11 Trình bày những nét chính về phong trào thơ Mới dưới đây nằm trong các bài văn mẫu lớp 11 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu nhằm giúp các em học sinh cùng quý thầy cô tham khảo, củng cố kỹ năng cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham bày những nét chính về phong trào thơ MớiNền văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổi lên hai trào lưu văn học tiêu biểu Văn học hiện thực phê phán và văn học lãng mạn. Nhắc đến trào lưu văn học lãng mạn không thể không nhắc đến thơ Mới. Đây là một phong trào văn học xuất hiện và nồ rộ trong vòng mười năm nhưng những thành tựu nó để lại là vô cùng lớn, làm nên một cuộc cách tân có ý nghĩa cách mạng về thơ Hoài Thanh, khái niệm thơ Mới phải được hiểu là mới cả về mặt nội dung và hình thức, mà trước hết là về nội dung, ông cũng cho rằng, thơ ca Việt Nam đi từ thời cổ điển sang hiện đại là đi từ chữ “ta” đến chữ “tôi” Một thời đại trong thi ca. Ban đầu, thơ Mới được hiểu là thơ tự do nhưng đến chặng phát triển đỉnh cao của nó, khái niệm về thơ Mới được bổ sung và hoàn chỉnh. Thơ Mới là thơ ca phản ánh cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ với tất cả các cung bậc phong phú đa dạng, phức tạp của nó thông qua hình thức nghệ thuật có nhiều đổi mới, cách tân nhằm phát huy cá tính sáng tạo độc đáo của mỗi người nghệ Mới ra đời là sự vận động phát triển của thơ ca nói chung mang tính tất yếu đã đến lúc phải đổi mới, cách tân, nhất là về mặt thể loại để thoát khỏi tính qui phạm hạn chế cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Bên cạnh đó là sự biến đổi trong đời sống xã hội cũng làm nảy sinh một bộ phận công chúng mới và không thể không kể đến ảnh hưởng của văn học phương Tây nói chung, thơ ca lãng mạn và trường phái thơ tượng trưng Pháp nói chung. Quá trình hình thành của thơ Mới được đánh dấu bằng bài viết “Một lối thơ mới trình làng giữa làng thơ” kèm theo bài thơ “Tình già” của Phan Khôi đăng trên tờ “Phụ nữ tân văn” vào tháng 10 năm 1932. Trong bài viết của mình, Phan Khôi công khai chĩa mũi nhọn vào thơ ca cũ, loại thơ gắn liền với những qui phạm, niêm, luật, vần, đối gò bó, chặt chẽ. Từ đó, ông đề xướng, ra một tư tưởng mới Thơ phải vượt ra khỏi tính qui phạm ấy. Thơ không bị bó hẹp bởi số câu, số chữ lại càng không bị chi phối bởi qui định bằng trắc, niêm luật trong thơ cũ. Với sự kiện này, Phan Khôi đã gây nên được cả một cao trào hưởng ứng. Chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào thơ Mới đã chiếm được ưu thế trên thi xuất hiện, vận động phát triển và đạt đỉnh cao và bước vào thoái trào của phong trào thơ Mới có thể chia thành ba chặngTừ năm 1932 - 1935, đây là chặng đường phong trào thơ Mới đấu tranh về mặt lí luận, chứng minh về mặt thực tiễn để khẳng định vị trí, chỗ đứng của mình trên thi đàn văn học dân tộc. Sau một thời gian ngắn, phong trào thơ Mới thực sự thắng thế. Thơ Mới chiếm được cảm tình yêu mến của tầng lớp công chúng thị dân, trí thức tiểu tư sản, sinh viên, học sinh và thế hệ trẻ ở các đô thị. Họ tìm thấy ở đó bức chân dung tâm hồn của mình, tìm thấy sự giao cảm giữa người nghệ sĩ, thi ca với chính tâm hồn họ. Thơ Mới thời kì này tuy những sáng tác tuy còn ít ỏi nhưng thực sự có tiếng vang, bước đầu mang đến những cách tân mới 1936 đến 1939 có thể coi là chặng viên mãn của phong trào thơ Mới với sự xuất hiện của hàng loạt các tên tuổi - mà về sau đã được Hoài Thanh, Hoài Chân tổng kết qua công trình nghiên cứu của mình, chỉ ra những sắc thái riêng như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Huy Cận... Đặc sắc của phong trào thơ Mới ở chặng này là nó diễn tả một cách chân thực, sinh động nhiều màu, nhiều vẻ cái tôi cá nhân của các thi sĩ. Dường như không có bất kì sự trùng hợp nào trong một tính chất thống nhất của thơ Mới là buồn, sầu, tủi ở mỗi người nghệ sĩ. Hơn nữa, trên bình diện hình thức nghệ thuật, mỗi nghệ sĩ tìm đã tìm được cách diễn đạt riêng của mình, thể hiện cá tính sáng tạo nhưng vẫn không tách rời sự gắn bó với quê hương đất nước dân tộc bằng những rung động trong năm 1940 đến năm 1945, thơ Mới bước vào giai đoạn thoái trào mà nguyên nhân trước hết là do bản chất của thơ Mới là tìm về cái Tôi, đào sâu cái Tôi cá nhân nhưng đào sâu mãi cái tôi cá nhân mà không chịu mở rộng nó ra bên ngoài và đưa bên ngoài vào cuộc sống của chính mình mà cái tôi trở nên nhỏ bé, tất yếu dẫn đến sự bế tắc, nhất là khi chưa tìm được ánh sáng lí tưởng mới soi đường. Điều này được thể hiện rất rõ trong tập “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên“Ta là ai ngọn gió siêu hìnhCâu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt”Thơ Mới ra đời là sự vận động phát triển của thơ ca nói chung mang tính tất yếuCuộc chiến tranh xâm lược lần hai của thực dân Pháp với không khí bi thương từ thành thị tới nông thôn cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của người nghệ sĩ thơ Mới, vốn là những người đang vì tôn thờ cái Tôi của mình mà đứng ngoài cuộc... Chính vì những điều đó mà ở giai đoạn này, thơ Mới có nhiều thay đổi. Các thi sĩ không còn sáng tác nhiều và sung sức như chặng trước, khiến cho thơ ca có diện mạo khá nghèo nàn. Những cái tôi cá nhân hoặc trở nên cũ mòn, không phù hợp hoặc mang màu sắc cá nhân, hưởng thụ với những triết lí của chủ nghĩa cá nhân người tư sản. Thơ Mới xuất hiện xu hướng chú trọng tới chủ nghĩa hình thức thuần túy như trong nhóm Xuân thu nhã tập. Mặt khác, một số nhà thơ chủ trương thành lập các trường phái thơ mang tên thơ điên, thơ loạn thể hiện sự bế tắc trong tư tưởng và quan niệm nghệ thuật. Thơ Mới bước vào giai đoạn thoái trào để chuẩn bị cho sự phát triển theo những hướng mới, phù hợp thành, phát triển đạt đỉnh cao và suy thoái trong vòng mười năm, không thể phủ nhận rằng các nhà thơ Mới và thơ ca của họ vẫn đứng ngoài cuộc đấu tranh chung của dân tộc, chưa phản ánh được những mảng hiện thực được coi là trung tâm, là sôi động nhất thời bấy giờ; cái Tôi cá nhân vẫn mang màu sắc bi quan chủ nghĩa nhưng thơ Mới cũng đã đạt được những thành tựu nổi bật. Nhìn chung thơ Mới có giai điệu, âm hưởng buồn nhưng với cảm hứng bay bổng và lãng mạn của mình thì ý nghĩa khách quan của nó chính là ở một thái độ đối lập, vượt qua khỏi thực tại đen tối thời bấy giờ, ngầm thể hiện ước mơ về những sự đổi thay. Thơ Mới đã được viết ra với cảm hứng về quê hương, đất nước, thiên nhiên, phong cảnh làng quê... rất đỗi quen thuộc. Nó chứng tỏ sự gắn bó với quê hương đất nước trong tâm hồn các thi sĩ. Đây cũng là một biểu hiện của lòng yêu nước, và tinh thần dân tộc của các nhà thơ Mới. Thơ Mới cũng mang đến một cuộc các mạng trong thi ca cả về mặt nội dung và hình thức thơ. Lần đầu tiên, “chữ tôi với cái nghĩa tuyệt đôi của nó” xuất hiện trong thi ca” cùng với đó là sự nở rộ của các phong cách thơ độc đáo không một sự lặp lại. Thơ Mới cũng đem đến sự cách tân mới mẻ trong hình thức thơ phá bỏ tính qui phạm nghiêm ngặt trước đó, mang đến cho thơ một màu sắc mới, một hình ảnh góp đáng ghi nhận của thơ Mới là đã làm nên một cuộc cách tân có ý nghĩa cách mạng về thơ ca. Đó là một hiện tượng nên có, cần có và phải có trong thơ ca Việt Nam Nguyễn Đăng Mạnh.-Trên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 11 Trình bày những nét chính về phong trào thơ Mới. Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm tài liệu để học tập nhé. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 11 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo “Trí tuệ con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bão táp" anh chị suy nghĩ gì về ý kiến trên?Thành ngữ có câu “Không thể bẻ đũa cả nắm” anh chị có suy nghĩ gì? Bàn luận về tình đoàn kết trong xã hộiTrái đất sẽ ra sao nếu thiếu đi màu xanh của những cánh rừng? Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Ngữ văn lớp 11 - Tuần 22 Phong trào thơ mới", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênNội dung text Bài giảng Ngữ văn lớp 11 - Tuần 22 Phong trào thơ mớiPHONG TRÀO THƠ MỚIPhong trào thơ mới Thơ mới những năm 1932-1945 theo khuynh hướng lãng mạn, là lý tưởng thẩm mỹ cái "tôi" của tác giả, thẩm mỹ hóa cái cuộc sống rối ren, tơi bời của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến. Thể hiện tâm trạng buồn sầu, ưu uất, lạc lõng giữa vòng đời và sự bất lực của tác giả trước thời trào thơ mới là gì? Phong trào thơ mới là một cuộc cách mạng thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ 20 - Thuộc thể loại thơ tự do. - Là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. - Chịu ảnh hưởng các phép tắc tu từ, thanh vận của thơ hiện đại phương giai đoạn của phong trào thơ mới 1. Giai đoạn 1932 – 1935. - Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa “thơ mới” và “thơ cũ”. - Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía “Thơ mới”. - Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập “Mấy vần thơ” 1935.Các giai đoạn của phong trào thơ mới 2. Giai đoạn 1936 – 1939. - Đây là giai đoạn “Thơ mới” chiếm ưu thế tuyệt đối trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. - Ở giai đoạn này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu tập thơ Thơ – 1938, Chế Lan Viên Điêu Tàn – 1937 hay Hàn Mặc Tử Gái Quê – 1936, - Tại thời điểm này, Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất, đã được “người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn”.Các giai đoạn của phong trào thơ mới 3. Giai đoạn 1940 – 1945. - Ở đầu giai đoạn, xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau. Nguyên nhân chính là sự khẳng định cái Tôi – mang màu đậm màu sắc cá nhân cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. - Đến giữa và cuối giai đoạn, các khuynh hướng thoát ly đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ nhà thơ tiêu biểu cho phong trào thơ mới- Ông là một học giả tên tuổi, nhà thơ, nhà văn, nhà báo. Quê ở tỉnh Quảng Nam. - Ông học chữ Nho từ nhỏ, đỗ tú tài Hán học năm 18 tuổi, tự học quốc ngữ và tiếng Pháp. - Ông đã đi nhiều nơi và làm việc cho rất nhiều tờ báo như Lục tỉnh Tân văn, Phụ nữ Tân văn, - Bài thơ Tình già đã đi vào văn học sử Việt Nam như một hiện tượng thơ ca hy hữu và mãi đến giờ vẫn luôn lay động tâm hồn của người yêu thơ mọi thế hệ. Phan Khôi 1887 - 1959Tình già- Bút danh là Nguyễn Thứ Lễ, quê ở tỉnh Bắc Ninh. - Ông là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, viết văn, viết kịch, làm đạo diễn sân khấu kịch nói. - Năm 1932, ông tham gia nhóm Tự lực văn đoàn. - Năm 1937, ông bắt đầu các hoạt động sân khấu. - Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới với các tác phẩm tiêu biểu như Mấy vần thơ thơ-1935; Vàng và máu truyện- 1934, Đoàn biệt động kịch-1947 - Phong cách sáng tác Thơ ông dồi dào, đầy lãng mạn, qua đó thể hiện những ẩn ý sâu sắc vô cùng. Thế Lữ 1907-1989- Tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Hoan, sinh ra ở tỉnh Quảng Trị. - Ông là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. - Ông tham gia Cách mạng tháng Tám và biên tập cho nhiều tờ báo. Phong cách sáng tác của ông được chia làm hai giai đoạn rạch ròi, đối lập nhau + Trước cách mạng bài thơ chán đời, điêu tàn Cái sọ người, Mồ không, Đám ma, + Sau cách mạng lại là những bài thơ dạt Chế Lan Viên 1920 – 1989 dào sức sống Trường Sơn, Tiếng hát con tàuĐám Ma Dưới hàng tre cao gieo làn bóng mảnh Ánh đuốc mờ nhợt nhạt lạnh lùng soi Chiếc hòm con êm đi trong sương lạnh Người mẹ già nức nở lên đôi hồi Ta lặng lẽ nhìn muôn sao tự hỏi – Mảnh hồn ta tiêu diệt tự bao giờ? Mà trong chiếc hòm con kia u tối Có phải chăng thi thể của người ta? Văng vẳng nghe trong không giới bao la Một vì sao êm gieo lời đáp lại!Hoa Đào Nở Sớm Rặng đào trước ngõ em qua Nắng hoe. Bướm trở mình bay Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào Cánh non nở vội kịp ngày chào mùa hoa. Đầy vườn lộc biếc cây tơ Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu Bỗng dưng một đóa hoa đầu Lòng anh từ độ em qua Nghe như đất lạ năm nào gặp em Hoa bay bướm dạo, cùng ta vào Phải rằng xê xích thời gian đời. Vầng dương bên ấy mọc sang bên này? Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án Ngữ văn 11 - Phong trào thơ mới 1932-1945, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênPHONG TRÀO THƠ MỚI 1932 – 1945 Kết quả cần đạt Giúp học sinh - Nắm được những nét chính về quá trình phát triển, đặc điểm cơ bản và những đóng góp chủ yếu của Phong trào thơ mới - Vận dụng các kiến thức đã học để luyện tập trắc nghiệm và tự luận. - Có thái độ yêu mến, trân trọng các giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ mới. Trong những năm đầu thập kỷ thứ ba của thế kỷ trước xuất hiện một dòng thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn. Đó là Thơ mới hay còn gọi là Thơ mới lãng mạn. Thơ mới là một cuộc cách mạng thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ 20. Sự xuất hiện của Thơ mới gắn liền với sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Phong trào thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca” 1, mở đầu cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. I- Hoàn cảnh lịch sử xã hội. Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã hội. Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội. Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Phong trào thơ mới 1932-1945. Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời. Vừa mới hình thành, các nhà tư sản dân tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phá sản và phân hóa, một bộ phận đi theo chủ nghĩa cải lương. So với giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước hơn. Tuy không tham gia chống Pháp và không đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chương cũng là cách để giữ vững nhân cách của mình. Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tây học. Đây là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Thông qua tầng lớp này mà sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng văn hoá, văn học phương Tây càng thấm sâu vào ý thức của người sáng tác. II- Các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới . Thơ mới được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của Phong trào thơ mới. Tản Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh - Hoài Chân xếp đầu tiên trong số 46 tên tuổi lớn của Phong trào thơ mới. Và đến ngày 10-3-1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” thì phát súng lệnh của Phong trào thơ mới chính thức bắt đầu. Có thể phân chia các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới thành ba giai đọan2 1- Giai đoạn 1932-1935 Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa Thơ mới và “Thơ cũ”. Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ …Trong bài “Một cuộc cải cách về thơ ca” Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ”. Cuộc đấu tranh này diễn ra khá gay gắt bởi phía đại diện cho “Thơ cũ” cũng tỏ ra không thua kém. Các nhà thơ Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ, Nguyễn Văn Hanh phản đối chống lại Thơ mới một cách quyết liệt. Cho đến cuối năm 1935, cuộc đấu tranh này tạm lắng và sự thắng thế nghiêng về phía Thơ mới. Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới với tập Mấy vần thơ 1935. Ngoài ra còn có sự góp mặt các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên … 2- Giai đoạn 1936-1939 Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với “Thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại. Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu tập Thơ thơ -1938, Hàn Mặc Tử Gái quê -1936, Đau thương -1937, Chế Lan Viên Điêu tàn - 1937, Bích Khuê Tinh huyết - 1939, … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, vừa mới bước vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn”3 . Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này. Vào cuối giai đoạn xuất hiện sự phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này được giải thích bằng sự khẳng định của cái Tôi. Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã mang đến những phong cách nghệ thuật khác nhau cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật. Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng thì cũng là lúc các nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng. 3- Giai đoạn 1940-1945 Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng …; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung …; nhóm Trường thơ Loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,… Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đọan này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà thơ mới. Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một bộ phận trí thức đã không giữ được tư tưởng độc lập đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản. Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng ngã ba đường, sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới. Bên cạnh đó, một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc, không lối thoát. III- Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào thơ mới Đánh giá Phong trào thơ mới, nhà thơ Xuân Diệu nhận địnhh “Thơ mới là một hiện tượng văn học đã có những đóng góp vào văn mạch của dân tộc”… “ Trong phần tốt của nó, Thơ mới có một lòng yêu đời, yêu thiên nhiên đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc”. Nhà thơ Huy Cận cũng cho rằng “Dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa”… “Các nhà thơ mới đều giàu lòng yêu nước, yêu quê hương đất nước Việt Nam. Đất nước và con người được tái hiện trong Thơ mới một cách đậm đà đằm thắm”4. 1- Tinh thần dân tộc sâu sắc Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do. Ở thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng từ 1925-1931 mà chủ yếu là phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nhà thơ Thế Lữ luôn mơ ước được “tung hoành hống hách những ngày xưa” Nhớ rừng; Huy Thông thì khát khao “Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”. Tinh thần dân tộc của các nhà thơ mới gửi gắm vào lòng yêu tiếng Việt. Nghe tiếng ru của mẹ, nhà thơ Huy Cận cảm nhận được “hồn thiêng đất nước” trong từng câu ca “Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”. Có thể nói, các nhà thơ mới đã có nhiều đóng góp, làm cho tiếng Việt không ngày càng trong sáng và giàu có hơn. Ở giai đoạn cuối, tinh thần dân tộc chỉ còn phảng phất với nỗi buồn đau của ngưòi nghệ sĩ không được tự do Độc hành ca, Chiều mưa xứ Bắc của Trần Huyền Trân, Tống biệt hành, Can trường hành của Thâm Tâm … 2- Tâm sự yêu nước thiết tha Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp ủ lòng yêu nước. Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ. Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp Em đi Chùa Hương; hình ảnh làng sơn cước vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận Đẹp xưa; hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh Quê hương Các thi sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, … Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước. Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào thơ mới còn bộc lộ một vài hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà thơ mới trong quá trình “nhận đường” những năm đầu sau cách mạng tháng Tám. IV- Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới 1. Sự khẳng định cái Tôi Nền văn học trung đại trong khuôn khổ chế độ phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi ngã. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ,… Đến Phong trào thơ mới, cái Tôi ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó. Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới của các nhà thơ mới. Ý thức về cái Tôi đã đem đến một sự đa dạng phong phú trong cách biểu hiện. Cái Tôi với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca đã xuất hiện như một tất yếu văn học. Đó là con người cá tính, con người bản năng chứ không phải con người ý thức nghĩa vụ, giờ đây nó đàng hoàng bước ra “trình làng” chữ dùng của Phan Khôi. Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của Phong trào thơ mới lên tiếng trước “Tôi là con chim đến từ núi lạ …”, “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới”… Có khi đại từ nhân xưng “tôi” chuyển thành “anh” “Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!” Thoảng hoặc có khi lại là “Ta” “Ta là Một, là Riêng là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”. “ Thơ mới là thơ của cái Tôi”5. Thơ mới đề cao cái Tôi như một sự cố gắng cuối cùng để khẳng định bản ngã của mình và mong được đóng góp vào “văn mạch dân tộc”, mở đường cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại. 2 . Nỗi buồn cô đơn Trong bài “Về cái buồn trong Thơ mới”, Hoài Chân cho rằng “Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra”6. Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn. Nỗi buồn cô đơn tràn ngập trong cảm thức về Tiếng thu với hình ảnh “Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”. Lưu Trọng Lư . Với Chế Lan Viên đó là “Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời” tức dân Chàm “Đường về thu trước xa xăm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi” Nghe một tiếng gà gáy bên sông, Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác gà trưa gáy não nùng” còn Xuân Diệu lại thấy “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa”. Về điều này, Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Nỗi buồn cô đơn là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà thơ mới, nỗi buồn ấy còn là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với chính mình. 3. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu Ngay từ khi ra đời, “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ”7. Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu đã tạo nên bộ mặt riêng cho Thơ mới. Đó là vẻ đẹp tươi mới, đầy hương sắc, âm thanh, tràn trề sự sống. Đây là cảnh mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”. Và đây là hình ảnh buổi trưa hè “Buổi trưa hè nhè nhẹ trong ca dao Có cu gáy và bướm vàng nữa chứ” Huy Cận. Trong thơ Chế Lan Viên có không ít những hình ảnh như “Bướm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng Những khóm tre cao rủ trước thành” tất cả gợi lên hình ảnh quê hương bình dị, thân thuộc với mỗi người Việt Nam. Những cung bậc của tình yêu đã làm thăng hoa cảm xúc các nhà thơ mới. “Ông hoàng của thơ tình” Xuân Diệu bộc bạch một cách hồn nhiên “Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”. Chu Văn Sơn cho rằng “Xuân Diệu coi tình yêu như một tôn giáo” nhưng là một “thứ tôn giáo lãng mạn, tôn giáo nghệ sĩ”8. Khác với Xuân Diệu, nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận thân phận bằng nỗi cô đơn sầu não “Với tôi tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”. Cảm xúc ấy không phải là một ngoại lệ. Nhà thơ Huy Cận cho rằng “Cái đẹp bao giờ cũng buồn” Kinh cầu tự và cảm nhận được sự tận cùng của nỗi buồn cô đơn “sầu chi lắm, trời ơi, chiều tận thế”. Nhà thơ triết lý về điều này một cách sâu sắc “Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu”. Một số đặc sắc về nghệ thuật Thơ mới là một bước phát triển quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà những năm đầu thế kỉ XX với những cuộc cách tân nghệ thuật sâu sắc. Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu Lưu Trọng Lư, Ông Đồ Vũ Đình Liên, Em đi chùa Hương Nguyễn Nhược Pháp… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần độc vận mà dùng nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định “Tiếng địch thổi đâu đây Cớ sao nghe réo rắt Lơ lửng cao đưa tận chân trời xanh ngắt Mây bay… gió quyến, mây bay Tiếng vi cút như khoan như dìu dặt Như hắt hiu cùng hơi gió heo may” Thế Lữ. Sự kết hợp giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhạc điệu riêng. Đây là những câu thơ toàn thanh bằng “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” Xuân Diệu hay “Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông” Bích Khê Ngoài việc sử dụng âm nhạc, Thơ mới còn vận dụng cách ngắt nhịp một cách linh hoạt “Thu lạnh / càng thêm nguyệt tỏ ngời Đàn ghê như nước / lạnh / trời ơi!” Xuân Diệu Ở một phương diện khác, cuộc cách tân về ngôn ngữ Thơ mới diễn ra khá rầm rộ. Thoát khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ dày đặc của “Thơ cũ”, Thơ mới mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật giàu giá trị tạo hình và gợi cảm sâu sắc “Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều” Xuân Diệu hay “Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng Đò biếng lười nằm mặc dưới sông trôi” Anh Thơ Sự phong phú về thể loại, vần và nhạc điệu cùng với tính hình tượng, cảm xúc của ngôn ngữ đã tạo nên một phong cách diễn đạt tinh tế, bằng cảm giác, bằng màu sắc hội họa của thơ mới. Đây là bức tranh “Mùa xuân chín” được Hàn Mặc Tử cảm nhận qua màu sắc và âm thanh “Trong làn nắng ửng, khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên dàn thiên lý. Bóng xuân sang”. Sự ảnh hưởng của thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp. Thơ mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét. Sự gặp gỡ giữa thơ Đường và Thơ mới chủ yếu ở thi tài, thi đề. Các nhà thơ mới chỉ tiếp thu và giữ lại những mặt tích cực, tiến bộ của thơ Đường trong các sáng tác của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị,... Trong bài Tràng giang, Huy Cận mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ lòng yêu nước “Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nếu sự ảnh hưởng thơ Đường làm cho thơ tiếng Việt càng phong phú giàu có thêm, tinh tế hơn thì sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp góp phần cho Thơ mới sáng tạo về thi hứng, bút pháp và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo. Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,…Hầu hết các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng khá sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca lãng mạn Pháp mà đại biểu là Budelaire, Verlaine, Rimbaud. Sự ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều bình diện từ cách gieo vần, ngắt nhịp đến cách diễn đạt. Ta có thể tìm thấy điều này ở các bài Nguyệt Cầm, Đây mùa thu tới Xuân Diệu, Đi giữa đường thơm Huy Cận, Màu thời gian Đoàn Phú Tứ. Một số bài thơ trong tập Tinh huyết Bích Khê, Thơ điên Hàn Mặc Tử, Thơ say Vũ Hoàng Chương chịu ảnh hưởng sâu sắc trường phái suy đồi của thơ ca Pháp các bài thơ Những nguyên âm của Rimbaud, Tương hợp của Budelaire …. Trong bài “Thơ mới-cuộc nổi loạn ngôn từ” Đỗ Đức Hiểu nêu nhận xét về hệ thống ngôn từ Thơ mới “Thơ mới là bản hòa âm của hai nền văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao hưởng cổ và hiện đại”9. Đó là sự giao thoa tiếng Việt với thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp thế kỷ XIX. Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp đối với Phong trào thơ mới không tách rời nhau. Điều này cho thấy tác động và ảnh hưởng từ nhiều phía đối với Thơ mới là một tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca. Chính sự kết hợp Đông -Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sức hấp dẫn riêng của Thơ mới. Sau 75 năm, kể từ khi ra đời cho đến nay, Phong trào thơ mới đã có chỗ đứng vững chắc trong đời sống văn học dân tộc. Qua thời gian, những giá trị tốt đẹp của Phong trào thơ mới Việt Nam 1932-1945 càng được thử thách và có sức sống lâu bền trong lòng các thế hệ người đọc. - CHÚ THÍCH Một thời đại trong thi ca Thi nhân Việt Nam, Hòai Thanh-Hoài Chân, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993, trang 15 Trong cuốn Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 NXB Giáo dục, 2002, Phan Cự Đệ chia làm 2 giai đoạn 1932-1939 và 1940-1945 Thi nhân Việt Nam Sđd, trang 106 Về Thơ mới Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 12 Thơ mới, những bước thăng trầm Lê Đình Kỵ, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang 46 Về cái buồn trong Thơ mới Hoài Chân, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 23 Về Thơ mới Huy Cận, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 9 Ba đỉnh cao Thơ mới Chu Văn Sơn- NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 24. Thơ mới, cuộc nổi loạn của ngôn từ Đỗ Đức Hiểu, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 142. Biên soạn PMT Chuyên BL

phong trào thơ mới lớp 11